Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích tự nhiên 15.048 ha, bao quanh bởi vùng đệm rộng 18.639 ha thuộc địa giới hành chính của 6 xã miền núi. Khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Thạch Lâm Xanh đặc sắc cùng quy mô dân số 12.559 người phân bố tại 29 thôn xóm. Mặc dù sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú và kho tàng văn hóa bản địa độc đáo của đồng bào Mường và Dao, đời sống kinh tế - xã hội của cư dân bản địa vẫn đối mặt với nhiều khó khăn khi tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 35,9% và thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 7,9 triệu đồng/người/năm. Thực trạng khai thác du lịch trước năm 2013 chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, sản phẩm nghèo nàn và chưa phát huy được quyền làm chủ của người dân địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng phòng hộ đầu nguồn sông Bứa và áp lực phát triển sinh kế cho cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng lõi và vùng đệm. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, khảo sát toàn diện các điều kiện tự nhiên, nhân văn, thực trạng hạ tầng và đánh giá sự tham gia của người dân tại ba bản trọng điểm: bản Lấp, bản Cỏi và bản Dù. Phạm vi thời gian nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2013 kết hợp số liệu khảo sát thực địa trong 6 tháng đầu năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để tăng thu nhập kinh tế cho hơn 2.908 hộ gia đình, giảm thiểu áp lực xâm hại tài nguyên rừng và định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái bền vững cho tỉnh Phú Thọ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết cốt lõi: Lý thuyết phát triển du lịch bền vững do Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) ban hành năm 2004 và Lý thuyết du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (CBET) được kế thừa từ các công trình nghiên cứu của Hector Ceballos-Lascurain (1987), Keith W. Sproule, Ary S. Suhand cùng tác giả Võ Quế (2006). Mô hình nghiên cứu vận dụng nguyên tắc kiềng ba chân của phát triển bền vững: cân bằng giữa bảo tồn nguyên vẹn các tiến trình sinh thái tự nhiên, bảo đảm tính xác thực văn hóa - xã hội của cộng đồng bản địa, và duy trì sự phân bổ công bằng lợi ích kinh tế lâu dài cho các bên tham gia.

Khung phân tích tập trung làm rõ 4 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  1. Du lịch sinh thái: Hình thức du lịch có trách nhiệm tại các vùng thiên nhiên hoang sơ nhằm mục đích thưởng ngoạn, nghiên cứu cảnh quan, muông thú và các biểu thị văn hóa gắn với giáo dục môi trường.
  2. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: Mô hình du lịch do chính người dân địa phương sở hữu, quản lý và tham gia cung cấp dịch vụ, trong đó phần lớn lợi nhuận kinh tế được giữ lại để cải thiện phúc lợi dân sinh và tái đầu tư bảo tồn tài nguyên.
  3. Sinh kế bền vững: Tập hợp các nguồn lực và năng lực sinh kế của người dân bản địa giúp tạo ra thu nhập ổn định mà không làm suy thoái hệ sinh thái rừng.
  4. Du lịch homestay: Phương thức lưu trú xanh lý tưởng đưa du khách cùng ăn, cùng ở và sinh hoạt trực tiếp tại nhà sàn của người dân để trải nghiệm văn hóa bản địa chân thực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học và độ tin cậy cao của dữ liệu. Cỡ mẫu khảo sát du khách được xác định gồm 150 phiếu phát ra trực tiếp tại các điểm tham quan trọng yếu, thu về 110 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 73,3%). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên cơ cấu đối tượng du khách thực tế (học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, khách du lịch tự do). Lý do lựa chọn phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc là nhằm lượng hóa chính xác thị hiếu, hành vi chi tiêu của du khách, đồng thời khai thác sâu sắc nhận thức, tâm tư và mức độ sẵn sàng tham gia du lịch của các hộ dân tại bản Lấp, bản Cỏi, bản Dù cùng lãnh đạo Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kiểm kê tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Xuân Sơn giai đoạn 2010 - 2013, niên giám thống kê huyện Tân Sơn và các đề án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ. Quá trình thu thập số liệu sơ cấp được tổ chức thực địa qua 2 đợt khảo sát trọng điểm trong năm 2013: đợt 1 diễn ra vào các ngày trong tuần (từ ngày 25 đến 27 tháng 6) và đợt 2 thực hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần (từ ngày 12 đến 14 tháng 7). Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu được vận dụng xuyên suốt để xử lý toàn bộ nguồn dữ liệu thu thập được.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Vườn quốc gia Xuân Sơn sở hữu kho tàng tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng phong phú với 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 699 chi và 185 họ. Trong đó, hệ thực vật ghi nhận 47 loài có nguy cơ tuyệt chủng được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ thế giới IUCN (tiêu biểu như Chò chỉ, Chò nâu, Trai lý, Gù hương), cùng 665 loài cây làm thuốc và 132 loài cây ăn quả, rau rừng quý hiếm như rau sắng. Về động vật, thống kê được 370 loài động vật có xương sống thuộc 25 bộ và 94 họ, trong đó có 94 loài thú (chiếm 37% tổng số loài thú và 67% số bộ thú của toàn quốc), 223 loài chim, 30 loài bò sát và 23 loài ếch nhái. Có 51 loài động vật hoang dã quý hiếm như Báo hoa mai, Gấu ngựa, Sơn dương, Sóc bay lông tai cần được ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt.

Thứ hai, tiềm năng văn hóa nhân văn bản địa đặc sắc được duy trì bởi 2 dân tộc thiểu số chiếm đa số: dân tộc Mường chiếm 79,9% (2.324 hộ) và dân tộc Dao chiếm 18,7% (546 hộ), trong khi người Kinh chỉ chiếm 1,4% (38 hộ). Các bản làng vùng lõi như bản Cỏi, bản Lấp vẫn lưu giữ nguyên vẹn kiến trúc nhà sàn truyền thống, các làn điệu dân ca ví đúm, múa đâm đuống, tập tục ngủ thăm độc đáo của người Dao Tiền và các sản vật đặc thù như gà nhiều cựa, xôi ngũ sắc, rượu cần.

Thứ ba, thực trạng sinh kế của cư dân vùng lõi chịu áp lực kinh tế nặng nề với mức thu nhập bình quân chỉ 7,9 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 35,9%. Dân số dự báo giai đoạn 2013 - 2020 tăng từ 12.559 người lên 13.859 người (tăng ròng 1.260 người), tạo sức ép lớn lên đất sản xuất nông nghiệp và tài nguyên rừng.

Thứ tư, khảo sát 110 du khách cho thấy đa số du khách đến Xuân Sơn bằng phương tiện tự túc, thời gian lưu trú ngắn (khoảng 1 đến 2 ngày), mức độ chi tiêu bình quân thấp do thiếu dịch vụ bổ trợ và cơ sở lưu trú homestay đạt chuẩn còn hạn chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến việc hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Xuân Sơn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là do sự thiếu hụt quy hoạch tổng thể về không gian du lịch cộng đồng, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối còn khó khăn và người dân chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng nghiệp vụ du lịch. Mô hình chia sẻ lợi ích giữa cơ quan quản lý nhà nước, Ban quản lý Vườn và cộng đồng bản địa chưa được thể chế hóa rõ ràng.

So sánh về mặt đa dạng sinh học, thành phần loài thú tại Vườn quốc gia Xuân Sơn (94 loài) có sự vượt trội đáng kể so với Vườn quốc gia Ba Bể (68 loài - Xuân Sơn cao gấp 1,38 lần) và tương đương với Vườn quốc gia Tam Đảo (93 loài). Điều này khẳng định Xuân Sơn là một trong những trung tâm đa dạng sinh học núi đá vôi hàng đầu miền Bắc.

Trong nghiên cứu, dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu dân tộc học (Mường chiếm 79,9%, Dao chiếm 18,7%, Kinh chiếm 1,4%) và bảng ma trận tổng hợp thành phần động thực vật đối chiếu theo các cấp độ nguy cấp của Sách đỏ Việt Nam và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của phát hiện này chỉ ra rằng, việc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng không chỉ là một phương thức kinh doanh thuần túy, mà còn là công cụ quản lý tài nguyên hữu hiệu nhằm chuyển đổi sinh kế cho 7.391 lao động địa phương, giảm thiểu sự phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác lâm sản rừng nguyên sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Quy hoạch phân vùng không gian du lịch và đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông liên thôn: Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn tiến hành cứng hóa 100% các tuyến đường trục chính dẫn vào bản Dù, bản Cỏi, bản Lấp trong giai đoạn 2015 - 2018. Mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận các hang động trọng điểm (hang Lạng, hang Na, hang Lun) và hoàn thiện hệ thống biển báo chỉ dẫn du lịch sinh thái đạt chuẩn.

  2. Tiêu chuẩn hóa mô hình dịch vụ homestay và nâng cao năng lực quản lý cho người dân: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ cùng Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng đón tiếp, chế biến ẩm thực an toàn vệ sinh và vệ sinh môi trường cho tối thiểu 60% hộ dân tại các bản du lịch trọng điểm. Đặt mục tiêu từ năm 2015 đến năm 2017 xây dựng ít nhất 20 nhà sàn homestay kiểu mẫu đảm bảo các tiêu chí tiếp đón du khách trong và ngoài nước.

  3. Thiết lập cơ chế tài chính vi mô và chia sẻ lợi ích cộng đồng: Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành chính sách ưu đãi vốn vay phát triển du lịch với lãi suất ưu đãi cho các hộ gia đình dân tộc Mường, Dao. Trích lập quỹ phát triển du lịch cộng đồng từ 20% đến 30% nguồn thu phí tham quan để tái đầu tư vào công tác tuần tra bảo vệ rừng, trùng tu di sản văn hóa và nâng cấp hạ tầng y tế, giáo dục địa phương.

  4. Xây dựng chiến lược truyền thông, quảng bá đa kênh và liên kết tour tuyến: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Phú Thọ phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội thiết lập tuyến du lịch liên kết Đền Hùng (cách 90 km) - Vườn quốc gia Xuân Sơn (cách Hà Nội 120 km) - Mai Châu (Hòa Bình). Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông số trong giai đoạn 2016 - 2020 nhằm thu hút đối tượng khách trẻ, học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách tại Cục Du lịch Quốc gia, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc xây dựng cơ chế quản lý rừng đặc dụng kết hợp khai thác du lịch bền vững.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Quản lý tài nguyên, Lâm nghiệp: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu thực địa bài bản, phương pháp xử lý dữ liệu định tính - định lượng kết hợp làm tài liệu học tập và phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.
  3. Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch sinh thái: Nguồn tư liệu thị trường quý giá giúp các công ty du lịch nắm bắt tài nguyên cảnh quan, tuyến điểm hang động và đặc trưng văn hóa để thiết kế các sản phẩm tour du lịch trải nghiệm, du lịch mạo hiểm và du lịch học tập phù hợp.
  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phát triển cộng đồng: Khung tham chiếu thực tế giúp triển khai các dự án tài trợ sinh kế, hỗ trợ kỹ thuật bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao năng lực cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vườn quốc gia Xuân Sơn có những lợi thế sinh thái nổi bật nào để phát triển du lịch sinh thái? Xuân Sơn sở hữu kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới trên núi đá vôi Thạch Lâm Xanh với 1.259 loài thực vật, 370 loài động vật có xương sống và hơn 30 hang động kỳ vĩ. Khí hậu nơi đây có nét độc đáo với sự thay đổi 4 mùa rõ rệt trong một ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học.

  2. Tỷ lệ cơ cấu dân tộc ảnh hưởng như thế nào đến việc định hình sản phẩm du lịch tại địa phương? Cơ cấu dân cư với 79,9% người Mường và 18,7% người Dao tạo nên bản sắc văn hóa bản địa độc đáo. Đây là nền tảng hình thành các sản phẩm du lịch nhân văn khác biệt như lưu trú homestay nhà sàn, thưởng thức ẩm thực gà nhiều cựa, rượu hoẵng và trải nghiệm các phong tục truyền thống như tập tục ngủ thăm.

  3. Khảo sát thực địa năm 2013 ghi nhận thông tin gì về quy mô mẫu và phản hồi của du khách? Nghiên cứu đã phát ra 150 phiếu và thu về 110 phiếu hợp lệ từ du khách đến từ nhiều tầng lớp xã hội. Kết quả ghi nhận du khách đánh giá cao sự hoang sơ của cảnh quan thiên nhiên và lòng hiếu khách của người dân, nhưng mong muốn địa phương nâng cấp dịch vụ vệ sinh và đa dạng hóa hoạt động trải nghiệm.

  4. Đâu là rào cản lớn nhất đối với sinh kế của người dân vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn? Rào cản lớn nhất là tỷ lệ hộ nghèo còn cao (35,9%) cùng mức thu nhập bình quân thấp (7,9 triệu đồng/người/năm). Trình độ dân trí chưa đồng đều với tỷ lệ học sinh theo học trung học phổ thông chỉ đạt khoảng 25%, dẫn đến sự hạn chế về vốn đầu tư và kỹ năng làm du lịch chuyên nghiệp.

  5. Giải pháp nào then chốt để cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch cộng đồng? Giải pháp then chốt là thể chế hóa cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi ích công bằng. Việc trích lại từ 20% đến 30% doanh thu dịch vụ du lịch để tái đầu tư vào quỹ bảo vệ rừng sẽ tạo động lực trực tiếp giúp cộng đồng bản địa tự giác bảo vệ 51 loài động vật quý hiếm và môi trường sinh thái.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, áp dụng phù hợp với đặc thù khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi miền Bắc.
  • Đánh giá toàn diện giá trị của 1.259 loài thực vật, 370 loài động vật có xương sống (trong đó có 94 loài thú) cùng bản sắc văn hóa của 2 cộng đồng dân tộc Mường và Dao tại Xuân Sơn.
  • Phân tích thực trạng kinh tế - xã hội của 2.908 hộ dân, chỉ rõ mâu thuẫn giữa tỷ lệ hộ nghèo 35,9% và nhiệm vụ bảo tồn diện tích 15.048 ha rừng đặc dụng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao về quy hoạch hạ tầng, chuẩn hóa homestay, chính sách tài chính vi mô và quảng bá liên kết tour tuyến cho giai đoạn 2015 - 2020.
  • Khẳng định phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng là chìa khóa then chốt để nâng cao đời sống dân sinh và bảo vệ vẹn nguyên tài nguyên thiên nhiên.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lữ hành hãy khai thác toàn diện các dữ liệu và giải pháp từ công trình nghiên cứu này để cùng chung tay thúc đẩy du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn phát triển bền vững và hiệu quả.