Tổng quan nghiên cứu
Huyện đảo Cô Tô giữ vị trí tiền tiêu chiến lược vùng biển Đông Bắc Việt Nam với hơn 40 hòn đảo lớn nhỏ trên vùng biển rộng gần 400 km², trong đó đảo chính Cô Tô lớn sở hữu diện tích đất tự nhiên khoảng 47,4 km². Nằm cách cảng Cái Rồng 35 km và cách thành phố Hạ Long 70 km, Cô Tô có tiềm năng vượt trội để trở thành mắt xích quan trọng trong tam giác tăng trưởng du lịch phía Bắc. Trong bối cảnh ngành du lịch Quảng Ninh đón tới 6,048 triệu lượt khách và đạt doanh thu 3.803 tỷ đồng chỉ trong 9 tháng đầu năm 2013, làn sóng tăng trưởng dịch vụ biển đảo đang đặt ra những áp lực môi trường gay gắt lên hệ sinh thái địa phương.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự mâu thuẫn giữa tốc độ khai thác du lịch tự phát với yêu cầu bảo tồn các giá trị tự nhiên đặc thù. Nghiên cứu xác định mục tiêu tổng thể là đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên du lịch tự nhiên - nhân văn, từ đó đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững cho đảo Cô Tô lớn. Về phạm vi không gian, đề tài tập trung khảo sát trên địa bàn đảo Cô Tô lớn, kết nối không gian sinh thái với đảo Thanh Lân, đảo Cô Tô con và vùng biển lân cận. Khung thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 02/2013 đến tháng 11/2013, thu thập chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn giai đoạn 2007 - 2011 và hiện trạng kinh tế - xã hội năm 2012.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho quy hoạch Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần với tổng diện tích 12.000 ha theo Quyết định số 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời kiến tạo mô hình cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và sức chứa sinh thái hải đảo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đồng bộ ba khung lý thuyết nền tảng trong quản trị môi trường và du lịch học:
Thứ nhất, Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) dựa trên 12 nguyên lý cốt lõi của Công ước Đa dạng sinh học và quy trình 5 bước triển khai thực tiễn của Gill Shepherd (2004). Phương pháp này coi con người và hoạt động kinh tế là một bộ phận không thể tách rời của hệ sinh thái, lấy việc duy trì cấu trúc và chức năng sinh thái làm ưu tiên hàng đầu.
Thứ hai, Lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (CBNRM). Khung lý thuyết này khẳng định người dân địa phương vừa là đối tượng hưởng lợi, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ tài nguyên và vận hành các chuỗi dịch vụ du lịch sinh thái.
Thứ ba, Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái đa thành phần do Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và các nhà khoa học trong nước xác lập. Mô hình này là sự giao thoa mật thiết giữa 4 trụ cột: du lịch thiên nhiên và văn hóa bản địa, du lịch ủng hộ bảo tồn, du lịch có giáo dục môi trường và du lịch hỗ trợ kinh tế cộng đồng.
Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm khoa học then chốt: Du lịch sinh thái (loại hình du lịch có trách nhiệm tại các vùng tự nhiên còn nguyên sơ), Tài nguyên du lịch (tổng thể các yếu tố tự nhiên và nhân văn có khả năng sinh lợi kinh tế và bồi dưỡng thể lực, trí tuệ con người), Sức chứa du lịch (ngưỡng chịu tải tối đa trên 4 khía cạnh vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội), Dịch vụ hệ sinh thái biển đảo (các giá trị điều hòa, cung cấp và văn hóa từ tự nhiên).
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học:
Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Cô Tô năm 2011, Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô, chuỗi số liệu nhiệt độ - lượng mưa - độ ẩm 5 năm liên tục (2007 - 2011) tại trạm khí tượng Cô Tô và các văn bản quy phạm pháp luật ngành du lịch.
Phương pháp điều tra xã hội học được triển khai với cỡ mẫu n = 50 đối tượng, bao gồm: 05 cán bộ quản lý phụ trách chuyên trách tại Phòng Văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cô Tô; 15 hộ dân bản địa tham gia hoạt động kinh tế ngư nghiệp và dịch vụ; 30 du khách lưu trú trên đảo. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích (Stratified & Purposive Sampling) được lựa chọn nhằm thu thập góc nhìn đa chiều, phản ánh chính xác tương quan giữa chủ thể quản lý, cộng đồng thụ hưởng và đối tượng tiêu thụ dịch vụ du lịch.
Phương pháp khảo sát thực địa được tiến hành dọc theo 04 tuyến du lịch tiềm năng trên đảo, kết hợp quan sát hình thái thảm thực vật, địa mạo bờ biển và ghi nhận hiện trạng suy thoái rạn san hô.
Phương pháp bản đồ sử dụng nền bản đồ địa chính tỷ lệ 1:50.000 (hệ quy chiếu VN-2000, kinh tuyến trục 107°45') để khoanh vùng và số hóa các tuyến du lịch sinh thái đề xuất.
Ma trận phân tích SWOT được ứng dụng để tổng hợp có hệ thống các điểm mạnh nội tại, điểm yếu về hạ tầng, cơ hội thu hút đầu tư và thách thức từ biến đổi khí hậu cũng như sự suy giảm đa dạng sinh học.
Toàn bộ quá trình thu thập thông tin, khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu được thực hiện liên tục từ tháng 02/2013 đến tháng 11/2013.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình điều tra thực địa và phân tích tài nguyên trên đảo Cô Tô lớn đã mang lại 4 nhóm phát hiện khoa học quan trọng:
Thứ nhất, tính đa dạng và độc đáo vượt trội của hệ thực vật trên cạn. Đảo Cô Tô lớn sở hữu hệ sinh thái rừng chõi nguyên sinh độc nhất vô nhị tại Việt Nam với diện tích trên 10 ha, cấu trúc rừng 3 tầng đặc trưng với những cá thể chõi cổ thụ cao hơn 20m có tuổi thọ gần 100 năm. Toàn huyện đảo ghi nhận 472 loài thực vật bậc cao thuộc 12 họ của 3 ngành thực vật, trong đó có tới 442 loài có giá trị sử dụng làm thuốc, lấy gỗ hoặc chiết xuất tinh dầu, chiếm tỷ lệ ấn tượng 93,6% tổng số loài. Ngoài ra, đảo Bắc Vàn còn lưu giữ 20 ha rừng nguyên sinh có độ tàn che cao.
Thứ hai, sự suy thoái nghiêm trọng của hệ sinh thái rạn san hô biển. Nếu như năm 1994, quần đảo Cô Tô ghi nhận sự phát triển rực rỡ của 114 loài san hô thuộc 37 giống và 13 họ với rạn san hô Hồng Vàn trải dài hơn 5 km thì đến thời điểm khảo sát năm 2013, diện tích và độ che phủ của san hô đã sụt giảm tới 90%. Các rạn san hô cành biến mất gần như hoàn toàn, chỉ còn sót lại các tập đoàn san hô khối và san hô não như Porites, Platygyra phân bố thưa thớt với tần suất bắt gặp thấp từ 3 - 4m/tập đoàn, kích thước dao động trong khoảng 20 - 40cm.
Thứ ba, đặc điểm địa hình và tài nguyên địa chất biển đảo phân hóa rõ rệt. Cấu trúc địa hình đồi núi thấp chiếm 51% diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 80 - 100m (đỉnh cao nhất đạt 160m tại đảo chính), trong khi vùng đất bằng xen kẽ chiếm 49% diện tích. Đảo sở hữu kỳ quan bãi đá trầm tích Cầu Mỵ có nguồn gốc biến chất cổ kỷ Ordovic-Silur cùng hệ thống gần 10 km bờ biển cảnh quan nguyên sơ, tiêu biểu là các bãi biển Hồng Vàn (2,1 km), bãi biển Nam Hải (3,4 km) và bãi biển Vàn Chảy (4,5 km).
Thứ tư, nguồn lợi thủy hải sản và kinh tế khai thác phong phú. Sản lượng khai thác hải sản năm 2012 đạt 5.600 tấn (trong đó cá đạt 2.090 tấn, mực 340 tấn, tôm 70 tấn, hải sản khác 3.100 tấn). Vùng biển Cô Tô còn sở hữu bãi tôm rộng 3,42 km² ở độ sâu 11 - 23m và 207 loài động vật đáy, cung cấp nhiều đặc sản quý hiếm như trai ngọc, bào ngư, hải sâm và sá sùng.
Thảo luận kết quả
Khi phân tích nguyên nhân suy thoái 90% diện tích san hô, kết quả nghiên cứu chỉ ra hai tác nhân nhân vi sinh chính: thói quen đánh bắt thủy sản mang tính hủy diệt bằng hóa chất độc hại (cyanua) của một bộ phận ngư dân trong quá khứ và sự gia tăng độ đục cơ học của tầng nước ven bờ do các hoạt động san ủi, xây dựng bờ kè giao thông thiếu kiểm soát. Điều này tương đồng với các cảnh báo về tổn thương sinh thái vùng bờ được ghi nhận trong các báo cáo của Viện Nghiên cứu Hải sản giai đoạn 2003 - 2004.
So sánh với các nghiên cứu tiền đề của Lê Đức An (1992, 1995) và Phạm Hoàng Hải (2007), luận văn đã cập nhật và kiểm chứng lại hiện trạng tài nguyên trong bối cảnh du lịch tăng trưởng nóng. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá tiềm năng địa lý tổng thể, trong khi công trình này chỉ rõ sự quá tải cục bộ về hạ tầng lưu trú và dịch vụ cấp nước ngọt sinh hoạt trong mùa cao điểm du lịch (tháng 5 đến tháng 8).
Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp ma trận SWOT và biểu đồ diễn biến nhiệt độ - lượng mưa trung bình 5 năm (nhiệt độ trung bình năm 22,86°C, lượng mưa bình quân 1.822,82 mm/năm). Biểu đồ khí hậu chứng minh rõ nét tính thời vụ đậm nét của du lịch Cô Tô, tập trung cao độ vào mùa hè với nhiệt độ nước biển đạt 28°C, trong khi mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và nhiệt độ nước giảm xuống 17,8°C. Đồng thời, nguy cơ từ 3 - 6 cơn bão đổ bộ hàng năm với sức gió giật 144 km/h đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tích hợp giải pháp ứng phó rủi ro thiên tai vào quy hoạch không gian du lịch sinh thái.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch Cô Tô theo hướng sinh thái và bền vững, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, quy hoạch và phân vùng không gian 04 tuyến du lịch sinh thái đặc thù. Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô cần phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh triển khai cắm mốc bảo vệ và đưa vào khai thác 4 tuyến du lịch: tuyến khám phá rừng chõi nguyên sinh kết hợp ngắm cảnh bãi biển Bắc Vàn; tuyến tham quan di tích lịch sử đồn Ký Con và bãi đá trầm tích Cầu Mỵ; tuyến du lịch trải nghiệm đảo Cô Tô con gắn với vùng rạn san hô tái sinh; tuyến du lịch văn hóa làng chài và cơ sở nuôi cấy ngọc trai. Mục tiêu giai đoạn 2015 - 2020 là tái sinh và nâng độ phủ san hô tại vùng vịnh Hồng Vàn lên mức 30% - 40%.
Thứ hai, thiết lập cơ chế quản lý du lịch dựa vào cộng đồng (CBNRM) và chia sẻ lợi ích. Ban hành quy chế trích lập từ 15% đến 20% nguồn thu phí tham quan thắng cảnh để tái đầu tư cho Quỹ bảo tồn thiên nhiên huyện đảo và hỗ trợ sinh kế cho các hộ chuyển đổi nghề từ khai thác hải sản sang dịch vụ lữ hành, lưu trú homestay sinh thái. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô và đại diện cộng đồng cư dân các xã Đồng Tiến, Thanh Lân và thị trấn Cô Tô.
Thứ ba, đầu tư hạ tầng kỹ thuật xanh và kiểm soát nghiêm ngặt sức chứa du lịch. Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng các đơn vị kinh doanh dịch vụ lắp đặt hệ thống thu gom, xử lý nước thải đạt chuẩn 100% tại các cơ sở lưu trú ven 3 bãi tắm Nam Hải, Hồng Vàn và Vàn Chảy. Áp dụng hạn mức sức chứa tối đa không quá 500 khách/ngày tại phân khu rừng chõi nguyên sinh và di tích bãi đá Cầu Mỵ nhằm ngăn chặn sự xáo trộn sinh cảnh.
Thứ tư, nâng cao năng lực nguồn nhân lực và đẩy mạnh giáo dục môi trường. Tổ chức các khóa đào tạo định kỳ trong giai đoạn 2014 - 2018 cho 100% đội ngũ thuyết minh viên, lái tàu du lịch và chủ cơ sở homestay về kỹ năng diễn giải môi trường, an toàn cứu hộ hàng hải và bảo tồn đa dạng sinh học biển đảo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương (Ủy ban nhân dân huyện Cô Tô, Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh). Sử dụng hệ số liệu thống kê khí hậu, tài nguyên sinh học và ma trận phân tích SWOT để thẩm định các dự án quy hoạch hạ tầng, thiết lập quy chế quản lý Khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững.
Nhóm 2: Các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư dịch vụ du lịch sinh thái. Khai thác hệ thống dữ liệu chi tiết về địa hình bờ biển, chiều dài bãi tắm và 04 tuyến du lịch tiềm năng để xây dựng các gói sản phẩm du lịch trải nghiệm thiên nhiên có trách nhiệm, tour lặn biển ngắm san hô và dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp thân thiện với môi trường.
Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia thuộc các viện, trung tâm nghiên cứu môi trường. Sử dụng luận văn như một tài liệu nghiên cứu điển hình (case-study) tiêu biểu về việc tích hợp phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) trong quản trị tài nguyên hải đảo ven bờ miền Bắc.
Nhóm 4: Học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản trị Dịch vụ Du lịch, Địa lý học và Quản lý Tài nguyên. Tham khảo cấu trúc nghiên cứu liên ngành, phương pháp điều tra xã hội học mẫu n = 50 kết hợp bản đồ địa chính tỷ lệ 1:50.000 để phục vụ cho các khóa luận, luận văn tốt nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Giá trị độc đáo nhất của hệ sinh thái rừng trên đảo Cô Tô lớn là gì?
Giá trị sinh thái nổi bật nhất là quần thể rừng chõi nguyên sinh có quy mô trên 10 ha lớn nhất cả nước, thuộc dạng rừng nhiệt đới 3 tầng với những cây cổ thụ cao hơn 20m, tuổi thọ gần 100 năm. Thảm thực vật trên đảo rất đa dạng với 472 loài thực vật bậc cao, trong đó 93,6% (442 loài) mang giá trị kinh tế và dược liệu quý.
Tại sao độ bao phủ của rạn san hô Cô Tô lại suy giảm nghiêm trọng tới 90%?
Nguyên nhân xuất phát từ việc đánh bắt mang tính hủy diệt bằng hóa chất độc hại của ngư dân trong quá khứ và sự gia tăng hàm lượng trầm tích lơ lửng làm tăng độ đục nguồn nước ven bờ do các dự án xây dựng hạ tầng. Hiện nay, quần xã 114 loài san hô trước đây chỉ còn lại một số tập đoàn san hô khối chịu đựng tốt phân bố thưa thớt với tần suất 3 - 4m/tập đoàn.
Luận văn sử dụng phương pháp và cỡ mẫu nào để điều tra thực trạng du lịch?
Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu n = 50 đối tượng, chọn mẫu phân tầng có chủ đích gồm 05 cán bộ quản lý thuộc Phòng VH-TT&DL và TN&MT, 15 hộ dân địa phương và 30 khách du lịch. Dữ liệu được kết hợp cùng bản đồ địa chính tỷ lệ 1:50.000 (hệ tọa độ VN-2000) và ma trận SWOT để phân tích toàn diện tiềm năng.
Điều kiện địa hình đảo Cô Tô lớn đem lại tiềm năng phát triển những loại hình du lịch nào?
Với cấu trúc 51% đồi núi thấp và 49% đất bằng, đảo sở hữu kỳ quan bãi đá trầm tích Cầu Mỵ phù hợp cho du lịch địa chất, mạo hiểm; cùng gần 10 km bãi tắm thoải, cát mịn như Vàn Chảy (4,5 km), Nam Hải (3,4 km) lý tưởng cho du lịch nghỉ dưỡng, thể thao biển và khám phá sinh thái.
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đóng vai trò thế nào trong các giải pháp của đề tài?
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái theo 12 nguyên lý quốc tế giúp chuyển dịch tư duy từ việc chạy theo số lượng khách sang quản lý dựa trên sức chứa sinh thái. Khung tiếp cận này tích hợp việc bảo vệ cấu trúc rừng chõi, phục hồi san hô với sự tham gia làm chủ và hưởng lợi kinh tế của cộng đồng dân cư bản địa.
Kết luận
- Luận văn đã xây dựng thành công cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc phát triển mô hình du lịch sinh thái tại đảo Cô Tô lớn thông qua việc vận dụng sáng tạo phương pháp tiếp cận hệ sinh thái và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng.
- Đánh giá chi tiết hiện trạng nguồn tài nguyên vô cùng phong phú của đảo với 472 loài thực vật trên cạn, hơn 10 ha rừng chõi nguyên sinh độc nhất vô nhị, 207 loài động vật đáy và hệ thống bãi biển cảnh quan dài gần 10 km.
- Cảnh báo kịp thời tình trạng suy giảm tới 90% diện tích rạn san hô tự nhiên và chỉ rõ các áp lực quá tải hạ tầng do tính mùa vụ du lịch biển đảo gây ra.
- Đề xuất bản đồ quy hoạch không gian 04 tuyến du lịch sinh thái trọng điểm gắn liền với các phân khu bảo tồn đa dạng sinh học và di tích lịch sử văn hóa trên đảo.
- Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, hoàn thiện hạ tầng xanh, kiểm soát sức chứa sinh thái và chuẩn hóa năng lực nhân sự địa phương cho giai đoạn 2014 - 2020.
Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai thí điểm tuyến du lịch sinh thái rừng chõi - bãi đá Cầu Mỵ từ năm 2015, đồng thời thiết lập trạm quan trắc sức chứa môi trường trước mùa du lịch cao điểm. Hãy áp dụng ngay các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái có trách nhiệm để biến Cô Tô thành viên ngọc xanh bền vững của vùng biển Đông Bắc Việt Nam.