phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tài nguyên đất cho phát triển cây sắn. Chƣơng 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình phát triển 9 nông nghiệp huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Đánh giá tài nguyên đất cho phát triển cây sắn trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát về các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu và các quan điểm tiếp cận 1. Trên thế giới Từ những năm 50 của thế kỷ XX, con ngƣời bắt đầu thấy cần có những hiểu biết tổng hợp để đánh giá tiềm năng của đất đai (Land) cho các mục tiêu sử dụng đã đƣợc xác định. Vì vậy, việc đánh giá sử dụng đất đai đƣợc xem là bƣớc nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất (Soil). Từ mục đích đó, công tác ĐGĐĐ đã đƣợc nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm và đã trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng phục vụ tích cực cho việc quy hoạch, hoạch định chính sách đất đai và sử dụng đất đai hợp lý.
Phƣơng pháp và hệ thống ĐGĐĐ ngày càng hoàn thiện. Phổ biến là các hệ thống: - Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Việc phân hạng và ĐGĐĐ đƣợc thực hiện từ những năm 1960, qua 3 bƣớc: + Đánh giá lớp phủ thổ nhƣỡng: So sánh loại thổ nhƣỡng theo tính chất tự nhiên. + Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai: Yếu tố đất đƣợc xem xét kết hợp với địa hình, khí hậu, độ ẩm đất. + Đánh giá kinh tế đất đai: Đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của tự nhiên.
Phƣơng pháp này thuần tuý quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tƣợng đất đai, chƣa xem xét đầy đủ khía cạnh KT-XH của việc sử dụng đất đai. - Đề cƣơng ĐGĐĐ của FAO: Từ những năm 70 của thế kỷ XX, song song với tiến trình thống nhất quan điểm về phân loại thổ nhƣỡng, FAO đã tài trợ những chƣơng trình nghiên cứu có tính toàn cầu về ĐGĐĐ và sử dụng đất đai trên quan điểm lâu bền. Kết quả là một dự thảo đầu tiên về phƣơng pháp ĐGĐĐ đã ra đời vào năm 1972. Dự thảo đã đƣợc nhiều quốc gia thử nghiệm và góp ý bổ sung, sau 11 đó đƣợc Brinkman và Smyth biên soạn lại và in ấn năm 1973.
Tại Hội nghị Rome 1975, các chuyên gia hàng đầu về ĐGĐĐ của FAO và các quốc gia khác (K.) đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nƣớc, bổ sung và biên soạn lại để hình thành đề cƣơng ĐGĐĐ (AFramework for Land Evaluation) đƣợc công bố vào năm 1976, sau đó đƣợc bổ sung, hoàn chỉnh năm 1983. Tài liệu này đƣợc cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phƣơng tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai. Tiếp theo đề cƣơng tổng quát 1976 là hàng loạt tài liệu hƣớng dẫn cụ thể khác về ĐGĐĐ cho từng đối tƣợng chuyên biệt cũng đƣợc FAO xuất bản nhƣ: ĐGĐĐ cho nền nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (FAO, 1984); ĐGĐĐ cho lâm nghiệp (1984), (1994); ĐGĐĐ cho nền nông nghiệp đƣợc tƣới (FAO, 1985); Hƣớng dẫn đặt kế hoạch sử dụng đất (1988); ĐGĐĐ cho đồng cỏ quảng canh (1989); ĐGĐĐ cho mục tiêu phát triển (1990); ĐGĐĐ và phân tích hệ thống canh tác cho việc sử dụng đất (1990). Hiện nay, công tác ĐGĐĐ đƣợc thực hiện trên nhiều quốc gia.
- Ở Hoa Kỳ: Phân loại khả năng thích hợp đất đai có tƣới của Cục cải tạo đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ biên soạn năm 1951. Hệ thống phân loại bao gồm các lớp, từ lớp có thể trồng trọt đƣợc (Arable) đến lớp có thể trồng trọt đƣợc một cách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng trọt đƣợc (Non arable). Trong hệ thống phân loại này, ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu về kinh tế cũng đƣợc xem xét nhƣng ở phạm vi thủy lợi. Ngoài ra, phân loại theo khả năng đất đai cũng đƣợc mở rộng trong công tác ĐGĐĐ ở Hoa Kỳ.
Phƣơng pháp này do Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1961. Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đai đƣợc nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là các hạn chế của lớp phủ thổ nhƣỡng đối với mục tiêu canh tác đƣợc đề nghị [13]. iệt Nam Từ năm 1954, ở miền Bắc, Vụ Quản lý đất và Viện Nông hóa thổ 12 nhƣỡng đã có công trình nghiên cứu và phân hạng vùng sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng cƣờng công tác quản lý, xếp hạng độ màu mỡ đất đai và xếp hạng thu thuế nông nghiệp. Từ đó đến nay, công tác phân hạng, ĐGĐĐ ở Việt Nam đã đƣợc nhiều cơ quan nghiên cứu và thực hiện nhƣ: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Viện Nông hoá - Thổ nhƣỡng, Tổng cục địa chính, Viện Địa lý, Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam.
Đặc biệt từ năm 1980 đến nay, việc nghiên cứu ĐGĐĐ đã đƣợc đẩy mạnh với việc sử dụng phƣơng pháp của FAO vào Việt Nam. Nhiều nhà khoa học và các cơ quan có liên quan đến sử dụng đất đai đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai phục vụ cho mục tiêu phát triển N-LN ở nƣớc ta. Có thể nêu ra một số công trình: + Đánh giá phân hạng đất đai toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và các cộng sự thực hiện năm 1984, tỷ lệ bản đồ 1/500.000) dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai (Land Capability Classification) của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ. Chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhƣỡng và địa hình đƣợc phân cấp nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp bao gồm 7 nhóm; trong đó đánh giá cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm), lâm nghiệp (2 nhóm) và mục đích khác (1 nhóm) [13].
+ Vận dụng phƣơng pháp phân loại khả năng đất đai của FAO, Bùi Quang Toản và cộng tác viên đã tiến hành đánh giá và qui hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam (1985). Các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá bao gồm các ĐGĐĐ nhƣ thổ nhƣỡng, thuỷ văn và tƣới tiêu, khí hậu nông nghiệp. Hệ thống phân hạng đến cấp lớp (class) thích hợp cho từng LHSD đất [28]. + Năm 1990, tác giả Hoàng Xuân Tý và cộng sự đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu đánh giá tiềm năng sản xuất đất trống đồi núi trọc và xác định phƣơng hƣớng sử dụng hợp lý", việc đánh giá tiềm năng đất đai dựa trên phân loại sinh khí hậu, xây dựng bản đồ mức độ thích hợp về mặt sinh khí hậu, đánh giá khả năng gây trồng và phục hồi rừng, áp dụng cho vùng đồi Quảng Nam - Đà Nẵng [5].
13 + Thời kỳ từ năm 1990 – 1995, trong Chƣơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nƣớc “Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp, mã số KN - 03” do Viện Khoa học Lâm nghiệp chủ trì có đề tài “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp và hoàn thiện phƣơng pháp điều tra lập địa”. Việc ĐGĐĐ lâm nghiệp đƣợc tiến hành trong phạm vi toàn quốc và trên 4 đối tƣợng chính: Đất vùng đồi núi, đất cát biển, đất ngập mặn sú vẹt, đất chua phèn. Đối với lãnh thổ đồi núi, việc xác định các đơn vị sử dụng đất đai dựa trên 5 yếu tố tự nhiên: độ cao, đất, độ dốc, độ dày tầng đất, lƣợng mƣa; Đánh giá tổng hợp tiềm năng đất đai lâm nghiệp dựa trên 4 yếu tố: độ dốc, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, hàm lƣợng chất hữu cơ [13]. + Trong chƣơng trình quy hoạch tổng hợp (Master Plan) vùng Đồng bằng sông Cửu Long, việc nghiên cứu khả năng sử dụng đất đai toàn vùng đồng bằng đã đƣợc thực hiện.
Các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá là các ĐGĐĐ có liên quan đến mục tiêu sử dụng đất. Nhìn chung, trong nhiều công trình, căn cứ để xác định phân hạng đất đai thƣờng gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện tƣới tiêu. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu và đánh giá, phân hạng đất đai ở Việt Nam chủ yếu mới chỉ áp dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; đối với ngành lâm nghiệp, nghiên cứu mới chỉ ở mức độ khái quát. + Trong thời kỳ 1992 - 1994, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện công tác ĐGĐĐ trên 9 vùng sinh thái của cả nƣớc với bản đồ tỉ lệ 1/250.00, Trần An Phong chủ trì) và ở một số địa phƣơng khác.
Các công trình đã vận dụng phƣơng pháp của FAO vào việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, xác định đất đai (Land) là một vùng đất bao gồm tất cả các thành phần của môi trƣờng tự nhiên có ảnh hƣởng đến việc sử dụng đất đai. Do đó, đất đai không chỉ đề cập đến thổ nhƣỡng mà còn bao gồm cả địa hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật cùng với những công trình cải tạo đất nhƣ hệ thống đê điều, hay các hệ thống tƣới tiêu. Đơn vị cơ sở để đánh giá là các ĐVĐĐ hay đơn vị bản 14 đồ đất đai (Land Unit/Land Mapping Unit). Các ĐVĐĐ đƣợc xác định dựa trên 7 chỉ tiêu tự nhiên (loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, lƣợng mƣa, thuỷ văn, tƣới tiêu, nhiệt độ).
Kết quả đánh giá đã khẳng định nội dung, phƣơng pháp ĐGĐĐ theo tiêu chuẩn của FAO vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay [21]. + Năm 1994 công trình “Bàn về phân loại sử dụng đất ở Việt Nam” của nhóm các nhà khoa học Nguyễn Ngọc Nhị, Bùi Quang Toản, Nguyễn Xuân Quát, Võ Văn Du, Nguyễn Văn Khánh có đề cập đến kết quả phân loại đất theo phát sinh của các nhà khoa học đất Việt Nam (theo phát sinh, đất Việt Nam có 14 nhóm 68 loại; trong đó đất đồi núi có 8 nhóm 35 loại) đồng thời đƣa ra các tiêu chí phân loại sử dụng đất. Các tiêu chí dự kiến đề xuất đƣợc đƣa ra ở đây gồm: độ dốc (6 cấp), độ dày tầng đất (4 cấp), nhóm đá mẹ (5 nhóm) và hiện trạng sử dụng đất (7 loại). Kết quả phân loại khả năng sử dụng nhằm mục đích “làm cơ sở cho việc quy hoạch và sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo vệ chống thoái hoá xói mòn đất.
Trên cơ sở của phân vùng kinh tế tự nhiên, cùng với sự phát triển của đất nƣớc, việc phân vùng kinh tế và quy hoạch lãnh thổ đã trở thành nhiệm vụ quan trọng.