mở đầu cho cuộc cách mạng phương pháp hóa học BVTV, hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời; 1940-1950: clo hữu cơ là một trong những chất ô nhiễm khó phân hủy vì vậy mà đã được cắm sử dụng ở nhiều nước sau đó. Biện pháp hóa học được sử dụng một cách tối đa nhờ vào những kỳ vọng mà con người lúc bấy giờ cho răng chúng có những khả năng hữu ích trong tương lai. 1953: Phân bón hỗn hợp NPK Cuối 1950, những tác động tiêu cực mà thuốc BVTV để lại hậu quả cho người sử dung va môi trường dan biểu hiện rõ. Giai đoạn 1960-1980: sử dụng thuốc BVTV không kiểm soát đã có những tác động tiêu cực lên xã hội.
Xuất hiện những chương trình lên án cho việc sử dụng những chất này và cần được loại bỏ. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu các loại thuốc BVTV mới được thúc đây nghiên cứu đề không những đạt được hiệu quả trong nông nghiệp mà còn an toàn về mặt lâu dài cho người sử dụng. Một số loại thuốc điển hình trong thời điểm nay là thuốc trừ sâu mới, thuốc trừ sâu nhóm Perethroid tổng hợp (1970), các nhóm TTS bệnh có nguồn gốc sinh học hoặc tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng lần lượt được nghiên cứu và ứng dụng. Giai đoạn này lượng thuốc BVTV sử dụng không ngừng tăng lên.
Giai đoạn 1980-nay: các loại thuốc BVTV mới ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của những loại không an toàn cho người sử dụng và môi trường. Các quốc gia kiểm soát chặt chẽ lượng sử dụng hơn bao giờ hết đặc biệt là những quốc gia xuất nhập khâu nông sản. Trong khi đó việc sản xuất phân bón đồng nhất, hỗn hợp cả về dạng hạt hay dạng lỏng đưa vào sử dụng tăng nhanh chóng nhất là ở Mỹ những năm 1980. Mặc dù vậy, hiện nay xu hướng dùng phương pháp hóa học trong nông nghiệp đang ngày càng có nhu cầu tôi thiểu hóa và một số được thay thế bởi phương pháp hữu cơ, đây chính là xu hướng NN xanh trên thế giới rất được ủng hộ.2 Lịch sử của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong nông nghiệp tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia nông nghiệp, có lịch sử gieo trồng các loại cây lương thực từ rất sớm, gan với nền văn minh lúa nước khu vực Châu Á nhưng có lịch sử sử dụng thuốc BVTV và PBHH khá muộn, mãi đến khi người Pháp sang khai thác thuộc dia thì các chất hóa học mới xuất hiện trong canh tác NN.
e Lịch sử của việc sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam, PPHH không được biết đến và sử dụng rỗng rãi. Chỉ một chút Sunfat đồng được dùng ở một số đồn điền do Pháp quản lý dé trừ bệnh gi sắt cà phê và Phytophthora cao su và một ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau. Việc thành lập Tô Hóa BVTV (01/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hóa BVTV ở Việt Nam, thuốc BVTV được dùng lần đầu trong SXNN ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên (vụ đông xuân 1956-1957). Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ 1962.
Giai đoạn từ 1957-1990: Thời kỳ bao cấp. Việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyên thực hiện. Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp. Bằng màng lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thăng xuống HTX nông nghiệp.
Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dich hại trên đồng ruộng. Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm với khoảng 20 chủng loại TTS (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh. Đa phần là các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao. Việc quản lý thuốc lúc này khá dé dàng, thuốc giả thuốc kém chat lượng không có điều kiện phát triển.
Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời; đáp ứng không ñúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp. Mặt khác, người nông dân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ý lại nhà nước. Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV van nảy sinh. Dé phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV.
Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết, tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ han một loài dich hại ra khỏi một vùng rộng lớn. Thuốc đã dé lại những hậu quả rất xấu đối với MT và sức khoẻ con người. Khi nhận ra những hậu qua của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc. Từ cuối những năm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hắn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học dé thay thế PPHH trong phòng trừ dich hai NN.
Giai đoạn từ 1990 đến nay: 10 Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi co bản: nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyền sang kinh tế thị trường. Năm thành phần kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV. Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, giá cả khá én định có lợi cho nông dân. Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng.
Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với MT được nhập. Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân rất thuận lợi. Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt và đạt được hiệu quả khích lệ. Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gây khó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc day người sử dụng khó lựa chọn được thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít khó khăn.
Tình trạng lạm dụng thuốc, tư tưởng y lại biện pháp hoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người. Ngược lại, có nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ thuốc BVTV trong SXNN và tìm cách thay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác. Theo Cục BVTV, đến 2020 đã loại bỏ được 1.265 hàm lượng hoạt chất thuốc của 838 tên thương phẩm thuốc BVTV ra khỏi Danh mục. Hiện nay danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng có 424 hoạt chất với 4.021 tên thương phẩm, trong đó thuốc sinh học chiếm 18,26%.
e Lịch sử của việc sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp tai Việt Nam: Giai đoạn trước 1960: Nông nghiệp Việt Nam còn chưa phát triển do chiến tranh, người dân chưa chuộng sử dụng PBHH mà chủ yếu sử dụng phân hữu cơ tự chế cho cây trồng Giai đoạn (1961-1980): sản xuất và tiêu thụ phân Ure, lân ở mức thấp, các nhà máy phân bón ra đời. Tuy nhiên mới chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu phân đạm cả nước, phần còn lại đều phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng kép giai đoạn này là 6,2%/năm, nhu cầu Kali cho giai đoạn này chưa được chú trọng. Giai đoạn (1981-2000): ngành PBHH đạt tốc độ tăng trưởng cao ở hầu hết các phân khúc, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10,1%/năm, cao hơn mức trung bình thê giới.
Giai đoạn nay, các nhà sản xuât trong nước dau tư công nghệ tiên 11 tiến để gia tăng nguồn cung và chất lượng. Ước tính sản xuất toàn ngành tăng trưởng trung bình đạt 22% giai đoạn 1991-1997, nhanh chóng bù đắp sự thiếu hụt các mảng sản phẩm NPK, Ure, lân. Giai đoạn 2001-nay: cũng như tình hình chung trên thế giới, ngành phân bón tăng trưởng chậm so với các giai đoạn trước. Nhu cầu tiêu thụ phân bón đang có tốc độ tăng trưởng giảm dan ở nước ta.
Tốc độ tăng trưởng kép đạt 3,1%/năm. Tiêu thụ phân bón cả nước tăng từ 6,5 triệu tan năm 2002 đến 2018 đạt gần 11 triệu tan.1: Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình 1961-2018 Sản lượng tiêu thụ phân bón và tốc độ tăng trưởng trung bình năm 1961 - 2018 P<) 25% 20,48% pts(haTảẩrnimệ)u 20% 10 17,12% 13,02% 15% co —— 10,94% 743% 8. 847% 10% =° 5% 0% 5% -10% No cô AD AN A5 40 A 4Ø oS o_O A DD NSN o_O Sh AA cô Od ON 9d 10 A ELL FSH I I SP PPP PP 6đ d9 se e WHSSiEnn000 mỹ “——“GASkanal Nguồn: IFASTAT, Bộ NN&PTNT, FPTS ước tinh Tính đến T6/2018 cả nước có 735 cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón được cấp phép với tổng công xuất 29,5 triệu tan/nam Chúng ta không thê phủ nhận vai trò của thuốc BVTV và PBHH trong ứng dụng nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV và sử dụng chúng an toàn, phòng trừ tong hợp là con đường tat yêu phải đến.
Phải phối hợp hài hoa các biện pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp; sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cuối cùng, khi các biện pháp phòng trừ khác sử dụng không hiệu quả. Trong thời gian này, mối quan hệ quốc tế giữa nước ta với các nước, với các tô chức quốc tế( FAO, WHO, CIRAP). và các tổ chức trong khu vực vốn có nay càng được day mạnh và phát huy tác dụng, giúp chúng ta nhanh chóng hội nhập được với trào lưu chung của thê gidi.3 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học trên thế giới e Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV: Tổng giá trị sử dụng thuốc BVTV tăng lên không ngừng qua các năm nhưng lượng thuốc sử dụng giảm, các chủng loại mới ra đời với tác động an toàn hơn so với các phiên bản cũ và ngày càng phong phú. Hiện nay, xu hướng sử dụng biện pháp BVTV sinh học được đánh giá cao và ngày càng được ưa chuộng, sử dụng thay thế cho một số thuốc BVTV hóa học, hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Đồng thời, các hoạt chất được đưa vào danh mục cắm hoặc hạn chế sử dụng đều được cân nhắc qua từng giai đoạn ứng với hiện trạng tác động tương ứng.