CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái quát về phân tích và đánh giá chính sách Trên thế giới và ở nước ta có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về chính sách.
Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra”. Như vậy, có thể nói, chính sách là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa mà Nhà nước đưa ra nhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình. Đánh giá tác động chính sách là dự báo những tác động có thể xảy ra của một dự thảo chính sách hoặc đo lường, phân tích các tác động về kinh tế, xã hội, môi trường đã xảy ra sau khi thực hiện một chính sách đã ban hành (Nguyễn Trung Thắng và cs, 2013). Quá trình nghiên cứu chính sách được phân thành hai hoat động chính: Phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách.
- Phân tích chính sách gồm: (i) Dự đoán các tác động của chính sách về phương diện kinh tế chính trị, xã hội;(ii ) Ước đoán về kết quả và tác động củacác lựachọn chính sách; (i ii) Ðưaracác khuyến nghị. - Ðánh giá tác động của chính sách gồm: (i) Ðánh giá kết quả (tích cực và ti êu cực) củavi ệc thực thichính sách;(ii )Tìm mức độ mà chính sách đạt được mục tiêu; nguyên nhân thành công và thất bại khi thực hiện chính sách. Ðánh giá tác động của chính sách là một hoạt động quan trọng trong quá trình nghiên cứu chính sách, nhằm làm rõ ảnh hưởng của chính sách đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát của xã hội nói chung. Việc đánh giá này gồm cả nội dung phân tích trước khi thực hiện chính sách (dự báo) và phân tích hiệu quả đạt được sau khi thực hiện chính m 6 sách.Các đối tượng chịu tác động của chính sách được phân ra: chịu tác động trực tiếp và chịu tác động gián tiếp.
Khái niệm bảo vệ rừng Ngoài việc quản lý rừng bền vững, nhà nước cũng cần phải thực hiện bảo vệ rừng. “Bảo vệ rừng là tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng hiện có, bao gồm thực vật, động vật rừng, đất lâm nghiệp và các yếu tố tự nhiên khác; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến đa dạng sinh học của rừng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái” (Nguyễn Huy Dũng, 2002). Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Huy Dũng cho rằng bảo vệ rừng bao gồm các hoạt động sau: Thứ nhất, phải thực hiện tốt công tác tổ chức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng như: phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản; xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng; săn bắn động vật rừng, chăn thả gia súc vào rừng trái quy định của pháp luật. Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; phòng, trừ sâu bệnh hại cho cây rừng.
Thứ ba, hàng năm thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng.3 Khái niệm phát triển rừng Theo Luật số 16/2017/QH14 do Quốc Hội ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2017 quy định: “Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng” Việc phát triển rừng bền vững đã được các nhà khoa học, các nhà chính sách các nước trên thế giới quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ thứ XX. Đây là tiêu chí quan trọng trong “chiến lược bảo tồn thế giới” nhằm đáp lại m 7 nhận thức và những mối lo ngại ngày càng tăng về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng sự xuống cấp môi trường thế giới. Quan điểm chung của các nhà khoa học về sự phát triển bền vững là phải đảm bảo sao cho việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến việc đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau. Khái niệm chính sách quản lý, bảo vệ rừng Để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, Nhà nước cũng cần xây dựng các chính sách quản lý, bảo vệ rừng cho phù hợp.
Chính sách quản lý, bảo vệ rừng là tập hợp các chủ trương và hành động về quản lý, bảo vệ rừng của chính phủ nhằm tạo cho rừng phát triển bằng cách tác động vào việc cung cấp các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn), từ đó tác động tới sản xuất đầu vào và đầu ra, tác động đến việc thay đổi tổ chức và chuyển giao công nghệ cho ngành rừng tại Việt Nam (Nguyễn Huy Dũng, 2002) 1. Đặc điểm và phân loại rừng 1. Đặc điểm của rừng Có thể nói, rừng là một quần xã sinh vật với diện tích đủ lớn trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Trong đó, quần xã sinh vật và môi trường cùng với các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.
Do vậy, rừng có những đặc điểm cụ thể như sau (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004). Thứ nhất, rừng là một thể tổng hợp phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó. Thứ hai, rừng luôn luôn có sự cân bằng động, có tính ổn định, tự điều hòa và tự phục hồi để chống lại những biến đổi của hoàn cảnh và những biến đổi về số lượng sinh vật, những khả năng này được hình thành do kết quả của sự tiến hóa lâu dài và kết quả của sự chọn lọc tự nhiên của tất cả các thành phần rừng. m 8 Thứ ba, rừng có khả năng tự phục hồi và trao đổi cao.
Khả năng tự phục hồi giúp rừng chống lại những thay đổi nhất định. Thứ tư, rừng có sự cân bằng đặc biệt về sự trao đổi năng lượng và vật chất, luôn luôn tồn tại quá trình tuần hoàn sinh vật, trao đổi vật chất năng lượng, đồng thời nó thải ra khỏi hệ sinh thái các chất và bổ sung thêm vào đó một số chất từ các hệ sinh thái khác. Thứ năm, sự vận động của các quá trình nằm trong các tác động tương hỗ phức tạp dẫn tới sự ổn định bền vững của hệ sinh thái rừng. Thứ sáu, rừng có phân bố địa lý theo vùng miền, địa phương.
Các vùng miền, địa phương có điều kiện khác nhau có kiểu rừng khác nhau, hệ sinh thái rừng cũng có những đặc trưng riêng theo vùng miền. Phân loại rừng Theo thông tư Số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, hiện nay rừng được phân thành ba loại: Rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Cụ thể: - Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng phòng hộ bao gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường.
- Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng gồm: vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên như khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. m 9 - Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng sản xuất bao gồm: Rừng tự nhiên, rừng trồng và rừng giống.
Rừng tự nhiên bao gồm rừng tự nhiên sẵn có và rừng phục hồi bằng khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên từ đất không có rừng. Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận. Đặc trưng của chính sách quản lý, bảo vệ rừng Chính sách quản lý, bảo vệ rừng được các cơ quan ban ngành rất quan tâm, bởi lẽ nó là kim chỉ nam giúp cho công việc quản lý và bảo vệ rừng bền vững. Các chính sách này cũng có những đặc trưng (Chính sách phát triển lâm nghiệp, Nguyễn Văn Tuấn, 2014) cụ thể như sau: Thứ nhất, chính sách quản lý, bảo vệ rừng được hình thành sớm.
Các chính sách này được hình thành song hành cùng với các luật về rừng (từ năm 1991 tới nay) cho thấy Nhà nước hết sức quan tâm đến việc quản lý, bảo vệ rừng. Không những thế, Nhà nước cũng ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ, quản lý và phát triển rừng ngày càng tốt hơn. Thứ hai, Nhà nước luôn xây dựng chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền với các chính sách về kinh tế - xã hội, đồng thời thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn lao động, ổn định và thực hiện cải thiện đời sống nhân dân tại những nơi có rừng. Thứ ba, hệ thống pháp luật về rừng từng bước được hoàn thiện.
Từ năm 1991 tới nay, các luật, chính sách về rừng được thay đổi và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời các chính sách ngày càng khuyến khích việc phát triển, bảo vệ rừng. Thứ tư, thông qua việc thực hiện phân loại rừng (bao gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống quốc gia), Nhà nước thực hiện đầu tư các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Không những thế, chính sách của Nhà nước còn đề ra chủ trương bảo vệ và phát triển các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.