Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang là một trong những thách thức an ninh phi truyền thống nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam trong thế kỷ 21. Theo các báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng chống thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan trong giai đoạn 10 năm từ 1997 đến 2006 đã làm chết và mất tích gần 7.500 người, đồng thời gây thiệt hại kinh tế ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP cả nước. Khu vực miền núi Tây Bắc là địa bàn đặc biệt nhạy cảm trước hiểm họa thiên tai với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 25,86% vào năm 2013 (cao gấp hơn 3 lần so với mức bình quân 7,8% của toàn quốc) và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 63%.

Trong bối cảnh đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí hậu của tác giả Lương Ngọc Cương tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá tác động đa chiều của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái, đời sống kinh tế xã hội và phân tích năng lực thích ứng nội tại của cộng đồng miền núi tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu xác định các mục tiêu cốt lõi gồm: lượng hóa xu thế biến đổi của các yếu tố nhiệt độ và lượng mưa; nhận diện mức độ tổn thương của hệ sinh thái nông lâm nghiệp; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính chống chịu sinh kế cho người dân bản địa.

Phạm vi không gian của đề tài bao quát toàn bộ 12 thôn thuộc xã Y Can với tổng diện tích tự nhiên 3.752,94 ha, kết hợp chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn hồi cứu 31 năm (1982 - 2012) từ Trạm Khí tượng Thủy văn Yên Bái và các đợt khảo sát thực địa chuyên sâu trong năm 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền địa phương lồng ghép vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2020, tạo đòn bẩy bảo vệ sinh kế cho 956 hộ dân (3.356 nhân khẩu) và thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững từ tỷ lệ nghèo 24,7% hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp hai khung tiếp cận hiện đại trong khoa học môi trường: Khung tiếp cận thích ứng dựa trên hệ sinh thái (EbA) và Khung tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA). Tiếp cận EbA nhấn mạnh việc sử dụng bền vững các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên như một chiến lược tổng thể nhằm gia tăng sức chống chịu của con người trước các cú sốc khí hậu. Song song đó, tiếp cận CBA quán triệt nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể và kiến thức bản địa trong toàn bộ tiến trình phân tích rủi ro và xây dựng hành động thích ứng.

Khung phân tích trung tâm của luận văn là Khung sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) phát triển, cấu trúc quanh 5 nguồn vốn then chốt: vốn tự nhiên (275,21 ha đất nông nghiệp và hệ sinh thái rừng đầu nguồn), vốn con người (1.920 lao động, chiếm 57,2% dân số), vốn vật chất (các công trình thủy lợi hồ Tự Do, hồ Khe Sặt với 19,9 ha mặt nước), vốn tài chính (nguồn thu nhập từ nông lâm nghiệp và vốn tín dụng chính sách) và vốn xã hội (mạng lưới gắn kết dòng họ, phong tục truyền thống của người Dao). Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: tính dễ bị tổn thương sinh thái, năng lực thích ứng, tính chống chịu hệ sinh thái và kịch bản phát thải trung bình B2.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, kết hợp giữa số liệu khí tượng quan trắc 31 năm (1982 - 2012) tại Trạm Khí tượng Thủy văn Yên Bái với kịch bản biến đổi khí hậu của tỉnh Yên Bái năm 2011 và kịch bản quốc gia năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Timeline nghiên cứu thực địa được triển khai liên tục từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2014 thông qua 3 đợt làm việc tại cấp huyện, xã và 12 thôn bản.

Về phương pháp chọn mẫu, đề tài áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu điều tra chính thức gồm 276 chủ hộ gia đình trên tổng số 956 hộ (đạt tỷ lệ chọn mẫu đại diện 28,87%), bao phủ toàn diện 3 vùng cảnh quan địa hình. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) đóng vai trò chủ đạo với 13 cuộc thảo luận nhóm tập trung, 8 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ lãnh đạo cấp huyện và xã, 10 hồ sơ lịch sử thiên tai, 10 sơ đồ hiểm họa, 8 lịch mùa vụ, 6 sơ đồ VENN và 3 ma trận phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Kỹ thuật kiểm tra chéo tam giác và phân tích thống kê phi tham số được áp dụng nhằm đối chiếu, thẩm định độ tin cậy giữa số liệu quan trắc trạm đo và tri thức trải nghiệm thực tế của người dân địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi số liệu 31 năm (1982 - 2012) chứng minh xu thế nóng lên rõ rệt với nhiệt độ trung bình tăng 0,078°C mỗi năm, trong khi tổng lượng mưa năm có xu hướng suy giảm nhẹ 0,6359 mm/năm và phân bố cực kỳ bất đối xứng giữa mùa khô (chỉ đạt 31,1 mm/tháng) và mùa mưa (đạt 271,8 mm/tháng).

Thứ hai, kết quả điều tra 276 hộ dân cho thấy tần suất và cường độ thiên tai ngày càng nghiêm trọng: 97,1% hộ dân (268/276 hộ) xác nhận chịu ảnh hưởng nặng nề từ lũ sông Hồng và lũ suối Gùa; 86,2% hộ (238/276 hộ) ghi nhận rủi ro từ rét đậm, rét hại; 75,4% hộ (208/276 hộ) đối mặt với hạn hán mùa khô; 38,4% hộ ghi nhận lũ quét và 34,8% hộ bị đe dọa bởi sạt lở đất.

Thứ ba, mức độ tổn thương sinh thái có sự phân hóa sâu sắc theo 3 vùng cảnh quan: Vùng núi cao (4 thôn dân tộc Dao gồm An Phú, Minh An, An Hòa, An Thành) chịu thiệt hại nặng về chăn nuôi và lúa nương do rét đậm kéo dài (tiêu biểu đợt rét đầu năm 2014 làm chết hơn 9 ha lúa và 0,2 ha ngô); Vùng ven sông Hồng (4 thôn gồm Quyết Tiến, Hòa Bình, Bình Minh, Tự Do) thường xuyên bị cô lập với 21 ha đất canh tác ngập sâu khi lũ về; Vùng núi thấp (4 thôn gồm Khe Chè, Hạnh Phúc, Thắng Lợi, Quyết Thắng) chịu sức ép kép từ hạn hán và sâu ăn lá tàn phá hàng trăm hecta rừng bồ đề hàng năm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến mức độ tổn thương tại Y Can ở mức cao xuất phát từ sinh kế của 65,9% người Kinh và 31,9% người Dao hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên nông lâm nghiệp tự nhiên. Khi so sánh với các nghiên cứu khí hậu khu vực của các nhà khoa học khí tượng Việt Nam, phát hiện tại Y Can hoàn toàn tương đồng về quy luật giảm số ngày mưa nhưng gia tăng cường độ mưa cực đoan trong thời kỳ ngắn. Đáng chú ý, việc xây dựng tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai dài 4 km chạy qua xã đã tạo thành bờ cản thoát lũ cục bộ, khiến thời gian ngập úng tại thôn Hạnh Phúc và Thắng Lợi kéo dài hơn so với lịch sử.

Trong luận văn, các dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ đường xu thế biến thiên nhiệt độ 31 năm, sơ đồ phân vùng hiểm họa lũ sông Hồng và bảng tổng hợp ma trận 5 nguồn vốn sinh kế. Các phân tích này khẳng định rằng điểm nghẽn lớn nhất trong năng lực ứng phó của xã là nguồn vốn tài chính khi có tới 236 hộ nghèo (chiếm 24,7%), khiến họ gần như không có khả năng tự đầu tư chuyển đổi giống cây trồng chịu hạn hay gia cố nhà cửa chống sạt lở nếu thiếu vắng sự trợ lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp thích ứng khí hậu: Chuyển đổi linh hoạt tối thiểu 30 ha đất lúa bấp bênh ven suối sang mô hình kinh tế Vườn - Ao - Chuồng cải tiến và gieo trồng các giống ngô lai chịu hạn, phấn đấu duy trì tổng sản lượng lương thực đạt 1.480 tấn/năm trong giai đoạn 2016 - 2020 dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Phòng Nông nghiệp huyện Trấn Yên và Ủy ban nhân dân xã Y Can.

Thứ hai, phát triển lâm nghiệp cộng đồng và bảo tồn rừng đầu nguồn: Giao quyền tự quản và bảo vệ 2.890,62 ha rừng sản xuất gắn với vùng rừng phòng hộ đầu nguồn suối Gùa cho các cộng đồng thôn bản người Dao, kết hợp phát triển 50 ha cây dược liệu và cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, hoàn thành trong lộ trình 24 tháng với sự hỗ trợ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái.

Thứ ba, nâng cấp hệ thống hạ tầng thủy lợi và tiêu thoát lũ: Quy hoạch nạo vét, kiên cố hóa hệ thống kênh mương tưới tiêu từ 2 hồ chứa lớn gồm hồ Khe Sặt và hồ Tự Do với tổng diện tích 19,9 ha, đảm bảo nguồn nước tưới ổn định cho 210 ha lúa nước; đồng thời mở rộng khẩu độ cống thoát lũ trên tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai trước mùa mưa bão năm 2018 do Ban Quản lý dự án giao thông chủ trì.

Thứ tư, thể chế hóa kiến thức bản địa và quỹ tín dụng vi mô: Thành lập Quỹ quay vòng vốn phòng chống thiên tai dành riêng cho 236 hộ nghèo vay vốn lãi suất ưu đãi trước tháng 5 hàng năm, đồng thời văn bản hóa quy ước làng bản của đồng bào Dao về cấm chặt phá rừng đầu nguồn và bảo vệ nguồn nước ngòi Gùa, thực hiện định kỳ hàng quý do Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xã điều hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý Nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái có thể sử dụng kết quả phân vùng 3 cảnh quan sinh thái để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và phân bổ ngân sách đầu tư công hiệu quả cho 12 thôn bản.
  2. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên môi trường: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp chuẩn mực giữa dữ liệu khí tượng hồi cứu 31 năm và 8 công cụ PRA thực địa tại địa bàn miền núi đa dân tộc.
  3. Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Các tổ chức như CARE, Oxfam, SRD có nguồn tài liệu thực chứng chi tiết về 5 nguồn vốn sinh kế của 956 hộ dân để thiết kế các dự án viện trợ phát triển sinh kế dựa vào cộng đồng (CBA).
  4. Ban quản lý lâm nghiệp và doanh nghiệp phát triển nông thôn: Doanh nghiệp chế biến gỗ rừng trồng và hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương có căn cứ khoa học để điều chỉnh lịch thời vụ, phòng ngừa sâu bệnh trên cây bồ đề và khai thác bền vững chỉ tiêu 7.200 m3 gỗ rừng trồng mỗi năm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn sử dụng khung lý thuyết nào để phân tích sức chống chịu của cộng đồng? Nghiên cứu kết hợp Khung tiếp cận thích ứng dựa trên hệ sinh thái (EbA), Tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) và Khung sinh kế bền vững DFID với 5 nguồn vốn. Mô hình này giúp đánh giá toàn diện năng lực của 956 hộ dân trước các áp lực biến đổi khí hậu trong chuỗi thời gian 31 năm.

  2. Cỡ mẫu và kỹ thuật thu thập dữ liệu thực địa của đề tài được thực hiện ra sao? Tác giả khảo sát 276 chủ hộ tại 12 thôn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên, thực hiện 13 cuộc thảo luận nhóm, 8 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo và phân tích chuỗi khí tượng 1982 - 2012 từ trạm đo, bảo đảm độ tin cậy và tính đại diện cao.

  3. Điểm đặc trưng về biến đổi khí hậu và thiên tai tại xã Y Can là gì? Xã Y Can ghi nhận nhiệt độ tăng 0,078°C mỗi năm, lượng mưa mùa khô chỉ đạt 31,1 mm/tháng gây hạn hán khốc liệt, trong khi 97,1% số hộ điều tra xác nhận thường xuyên chịu rủi ro ngập úng từ sông Hồng và lũ suối Gùa.

  4. Sự phân hóa tác động của biến đổi khí hậu theo các vùng cảnh quan diễn ra như thế nào? Vùng núi cao gồm 4 thôn người Dao chịu thiệt hại nặng nề do rét hại làm chết hơn 9 ha lúa; vùng ven sông Hồng chịu ngập lụt định kỳ trên 21 ha đất bãi; vùng núi thấp đối mặt với sạt lở taluy và hạn hán kéo dài.

  5. Đề tài đóng góp những giải pháp ứng phó cụ thể nào cho địa phương? Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp liên ngành gồm chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn, quản lý 2.890,62 ha rừng sản xuất, nâng cấp thoát lũ hạ tầng cao tốc và lập quỹ tín dụng vi mô cho 236 hộ nghèo đến năm 2020.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công xu thế ấm lên 0,078°C/năm và mức độ sụt giảm lượng mưa mùa khô, làm sáng tỏ các hiểm họa thiên tai đe dọa sinh kế địa phương.
  • Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác từ 276 hộ điều tra và chuỗi khí tượng 31 năm, phản ánh rõ nét tính dễ bị tổn thương trên 3 vùng cảnh quan sinh thái.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của việc kết hợp tri thức bản địa dân tộc Dao với 5 nguồn vốn sinh kế DFID trong nâng cao sức chống chịu cộng đồng.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, gắn liền với Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016 - 2020 của địa phương.
  • Khuyến nghị Ủy ban nhân dân huyện Trấn Yên và các cơ quan chuyên môn sớm thể chế hóa khung thích ứng sinh thái vào quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp cấp cơ sở.