phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Nghiên cứu đề xuất định hƣớng sử dụng đất thích ứng với biến đổi khí hậu và các giải pháp quản lý, sử dụng đất bền vững tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Tổng quan về sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất Theo Hiến pháp năm 2013: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nƣớc, đƣợc quản lý theo pháp luật”. Đất đai không chỉ giới hạn là bề mặt trái đất, mà còn đƣợc hiểu nhƣ là khái niệm pháp lý về bất động sản.
Tài sản hợp pháp đƣợc định nghĩa là không gian bên trên, dƣới hoặc trên mặt đất và bao gồm một số công trình xây dựng về mặt vật chất hoặc pháp lý gắn với tài sản đó. Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất đƣợc sử dụng. Việc sử dụng đất có thể đƣợc định nghĩa là những hoạt động của con ngƣời có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng. Theo quy định tại điều 6, Luật đất đai 2013, việc sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây: - Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất - Tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trƣờng và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của ngƣời sử dụng đất xung quanh - Ngƣời sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai 2013 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phƣơng thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng đất. + Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian nhƣ diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng… cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng nhƣ các yếu tố bao quanh mặt đất nhƣ yếu tố khí hậu, địa hình, thổ nhƣỡng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố nhƣ chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trƣờng, chính sách đất đai, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thƣơng nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đƣa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
+ Yếu tố không gian: đây là một tính chất đặc biệt khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con ngƣời. Đất đai hạn chế về số lƣợng, có vị trí cố định và là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội. - Cơ cấu diện tích đất theo mục đích sử dụng là tỷ trọng diện tích của phần đất có cùng mục đích sử dụng trong tổng diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính, bao gồm tỷ trọng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chƣa sử dụng chiếm trong tổng diện tích tự nhiên. - Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất là một thuật ngữ chuyên môn mới đƣợc nêu ra trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất, song thực tế vấn đề này đã diễn ra ở hầu hết các địa phƣơng trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhất là giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH hiện nay.
Nguyên nhân chính dẫn đến chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất là sự chuyển MĐSDĐ. Có nhiều tiêu chí tiếp cận khác nhau về chuyển MĐSDĐ. Về mặt nội dung công việc thì chuyển MĐSDĐ bao gồm các bƣớc cụ thể sau: thu hồi đất đai để phục vụ cho các dự án đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; bồi thƣờng, hỗ trợ cho các đối tƣợng có đất bị thu hồi; giải tỏa các công trình tài sản có trên mặt đất; thực hiện các chính sách tái định cƣ nhƣ chỗ ở, việc làm, thu nhập, ổn định cuộc sống; giao đất, cho thuê đất cho các chủ dự án để họ sử dụng theo các mục đích đã đƣợc phê duyệt. Về mặt mục đích thì chuyển MĐSDĐ tạo điều kiện cần thiết cho sự phát triển.
Ở nƣớc ta hiện nay đó là sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng hiệu quả hơn. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, nhìn một cách tổng quát thì chuyển MĐSDĐ là quá trình từ việc nhà nƣớc ra các quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao, đến việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tƣ để sử dụng cho các mục đích mới và giải quyết hậu quả các vấn đề phát sinh trong quá trình đó bằng các hình thức và phƣơng pháp thích hợp bao gồm: bồi thƣờng đất, bồi thƣờng và giải tỏa các công trình trên mặt đất, tái định cƣ, hỗ trợ giải quyết việc làm, ổn định đời sống của ngƣời bị thu hồi đất nhằm mục tiêu thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thực hiện tốt mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tổng quan về biến đổi khí hậu - Khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu đƣợc dùng để chỉ những thay đổi của khí hậu vƣợt ra khỏi trạng thái trung bình và đƣợc duy trì trong một thời gian dài, thƣờng là một vài thập kỉ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do quá trình tự nhiên bên trong hoặc có tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.
Nói một cách đơn giản: “ BĐKH là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một thời gian dài, có thể là ấm hơn hoặc lạnh hơn, lƣợng mƣa hoặc lƣợng tuyết trung bình hàng năm có thể tăng hoặc giảm”[3]. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ[24]. Trên thế giới, nhiều thành phố của các quốc gia ven biển đƣợc dự đoán đang đứng trƣớc nguy cơ bị nƣớc biển nhấn chìm do mực nƣớc biển dâng - hậu quả trực tiếp của sự tan băng ở Bắc và Nam cực.
Mức độ rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do nƣớc biển dâng theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Việt Nam, Inđônêxia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippin. Nƣớc biển dâng còn kèm theo hiện tƣợng xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nƣớc ngầm, tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và tài nguyên nƣớc ngọt. Theo dự đoán, đến năm 2080, sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ ngƣời 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải đối mặt với sự khan hiếm nƣớc, khoảng 600 triệu ngƣời sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dƣỡng do nguy cơ năng suất trong sản xuất nông nghiệp giảm. Trong thời gian 20 - 25 năm trở lại đây, có thêm khoảng 30 bệnh mới xuất hiện.
Tỷ lệ bệnh nhân, tỷ lệ tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó sẽ có thêm khoảng 400 triệu ngƣời phải đối mặt với nguy cơ bị bệnh sốt rét. Theo Nicolas Stern (2007) – nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới, thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ƣớc tính khoảng 7.000 tỷ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5-20% GDP. Ở Việt Nam, trong thời gian qua, diễn biến của khí hậu cũng có những nét tƣơng đồng với tình hình chung trên thế giới. BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực về tài nguyên, môi trƣờng và kinh tế – xã hội, nhƣng trong đó tài nguyên nƣớc, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế và các vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh nhất.
Nhu cầu nƣớc sinh hoạt cho con ngƣời, nƣớc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lƣợng, giao thông… đều tăng. Bên cạnh đó, lƣợng bốc hơi nƣớc của các thủy vực (hồ ao, sông, suối…) cũng tăng. Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nƣớc cả về số lƣợng và chất lƣợng sẽ trở nên trầm trọng hơn. Những thay đổi về mƣa, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và cƣờng độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lƣợng nƣớc ngầm.
Theo dự đoán, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm đáng kể lƣợng nƣớc trong các con sông ở Việt Nam. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, hiện nay, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Khi nhiệt độ, tính biến động và dị thƣờng của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt. Trong thời gian qua, ở nhiều địa phƣơng, mùa màng đã bị mất trắng do thiên tai (lũ lụt và hạn hán).
Việt Nam có đa dạng sinh học cao, có các hệ sinh thái đa dạng. Nhiệt độ tăng, còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lƣợng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH. Ở Việt Nam, trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở ngƣời và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh…) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thƣờng hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đáng kể. Tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất 1.