Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc gia. Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuất nào. Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là một tư liệu sản xuất quan trọng vá không thể thay thế được. Có thể nói sự phát triển của con người luôn gắn liền với đất.
Đối với môi trường, đất được coi là nhân tố không thể thiếu được trong việc làm sạch môi trường với tất cả các chất thải thông qua hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người chúng ta nói riêng. Nhưng hiện nay, tài nguyên đất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng do bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Do dân số ngày càng tăng nhanh và nhu cầu của con người ngày càng cao về mọi mặt nên con người đã tác động quá mức vào tài nguyên thiên nhiên tạo nên sức ép đối với đất đai và các tài nguyên khác. Hậu quả của các hoạt trên đã làm cho quỹ đất nông lâm nghiệp có nguy cơ suy giảm về diện tích và thoái hóa Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 33.093 ha,trong đó là đất dốc, hơn nứa Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn tập trung theo mùa nên đất dốc chiếm vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp cả nước, đặc biệt với người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng.
Nhìn chung đời sống của dân vùng này còn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả sản xuất và thu nhập thấp. 2 Đứng trước thực trạng này Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến tới sản xuất nông lâm nghiệp lâu bền trên đất dốc qua việc tổ chức các hình thức nghiên cứu và áp dụng theo khoa học hỹ thuật cho phú hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường của tùng vùng nhằm phát huy mọi tiềm năng.Trong bối cảnh đó hình thức quản lý và sử dụng hài hòa giữa các lợi ích kinh tế, bảo tồn tài nguyên môi trường được hình thành và phát triển. Canh tác nương rẫy (CTNR) là một hình thức canh tác lạc hậu của người dân vùng cao với trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác còn hạn chế lạc hậu nên hiệu quả kinh tế còn thấp, tính bền vững chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu về mặt kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng. Cổ Linh là một xã miền núi khó khăn của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn là xã có địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc cao, kỹ thuật canh tác của người dân chủ yếu là canh tác nương rẫy.
Các hình thức canh tác nương rẫy như nương rẫy cố định; nương rẫy không cố định; nương rẫy bán cố định…. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban Chủ Nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dấn. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu Nhằm đánh giá được hiệu quả của một số hệ thống canh tác nương rẫy của xã Cổ Linh, phân tích nhưng thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất canh tác nương rẫy tại địa bàn xã. - Biết được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất như địa hình, kỹ thuật canh tác. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, làm quen với thực tế địa phương, biết áp dụng lý thuyết và thực tế, tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong thực tế.
- Các kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về đánh giá hiệu quả canh tác nương rẫy tại địa phương. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề xuất các biện pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả cao trong canh tác, phù hợp với địa hình của xã và các giải pháp cho việc canh tác giống cây trồng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Miền núi chiếm 75% diện tích đất liền Việt Nam và 21% dân số cả nước.
Trong phạm vi miền Bắc Việt Nam, sự chênh lệch về mức độ phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ và vùng miền núi sẽ có thể tăng từ trong thập kỷ tới (Lê Trọng Cúc, 1995) [2]. Nét đặc thù của cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi là sống gần rừng và dựa vào rừng. Vì vậy, họ có hệ thống kiến thức và kinh nghiệm sản xuất rất phong phú trong việc bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng. Tuy nhiên, đặc trưng của kiến thức bản địa là phạm vi sử dụng hẹp.
Nó phù hợp với điều kiện văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương nhất định nhưng có khi lại không phù hợp với địa phương khác, dân tộc khác. Kiến thức bản địa luôn được hình thành và liên tục biến đổi qua các thế hệ trong mối cộng đồng; kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường và điều kiện của từng địa phương nơi kiến thức bản địa hình thành và phát triển (Đỗ Đình Sâm và cộng sự) [4]. Chính vì vậy, hệ thống kiến thức bản địa trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất khác nhau giữa các địa phương, giữa các dân tộc. Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững cũng như duy trì và bảo tồn hệ thống kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống kiến thức bản địa của từng địa phương, của từng dân tộc.
Trên cơ sở đó, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu nghiên cứu về hệ thống kiến thức bản địa của từng địa phương, của từng dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể kế thừa, sử dụng và phát huy những ưu điểm của hệ thống kiến thức bản địa trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững. 5 Canh tác nương rẫy là canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy theo hướng bền vững. Thực hiện CTNR theo hình thức NLKH, sử dụng có hiệu quả các loài cây trồng cạn chịu hạn, có năng suất cao, các loài cây họ đậu, cây có củ, cây ăn quả, cây dược liệu, kết hợp với cây trồng nông nghiệp với cây lâm nghiệp, cây trồng cao với cây trồng thấp, cây ngắn ngày với cây dài ngày, trồng trọt với chăn nuôi gia súc, gia cầm, đào áo thả cá.
Bằng cách đó sẽ tạo ra sự cân bằng sinh thái cục bộ, có khả năng giữ được độ ẩm, cản dòng chảy, chống xói mòn đất, làm cho độ phì của đất luôn luôn được bổ sung trong quá trình canh tác và từ nguồn phân hủy tự nhiên của lớp thảm thực vật… Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở nhiều nơi cho thấy, CTNR theo phương thức NLKH sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế khả quan, thu nhập tăng lên, đời sống được cải thiện, góp phần đáng kể vào chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi, rừng được bảo vệ tốt hơn bao gồm phát triển bền vững cả mặt kinh tế xã hội và môi trường, cụ thể: Bền vững kinh tế: Nghĩa là lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm trọng tâm thông qua việc trồng các loại cây cho năng suất cao và ổn định được thị trường chấp nhận và đem lại lợi ích kinh tế cho người dân. Bền vững xã hội: Giải quyết được việc làm cho người dân trong mùa vụ thu hoạch trong vùng dự án. Đông thời thu mua, tiêu thụ được số lượng sản phẩm từ mô hình của nhân dân trong vùng dự án, giúp cho nhân dân tiêu thụ được sản phẩm có lợi nhuận. Bền vững về môi trường: Duy trì được hệ thống sản xuất nông lâm nghiệp vừa đem lại sản lượng đồng thời có vốn để đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống đem lại lợi ích về mặt môi trường.
Những nghiên cứu trên thế giới CTNR đã được các nhà nước nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ việc phân tích kiến thức cổ truyền của người dân địa phương đến những ảnh hưởng trực tiếp của CTNR đối với môi trường. 6 Katherine Warner (1975) [14] đã tổng kết một số vấn đề du canh tại vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh. Theo tác giả, du canh thể hiện phản ứng của con người khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một số hệ thống nông nghiệp sinh thái ở trong rừng nhiệt đới. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới có đặc trưng chung là đất dễ bị thoái hóa nhưng đa dạng về hệ động thực vật cực kỳ phong phú cung cấp ít dinh dưỡng nhưng lại có hàng loạt các loại cây có khả năng cạnh tranh đối với cây lương thực, thực phẩm.
Qua cách phát đốt thảm thực vật rừng người dân du canh đã tìm cách loại trừ các loại cây cạnh tranh, tập trung chất dinh dưỡng để thâm canh các loại cây lương thực. Đó là một tác động tích cực vào rừng để đạt tới quá trình diễn thế mới có ích cho người dân. Tuy nhiên, đối với người nông dân du canh tổng hợp, đó chỉ là sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng. Diễn thế bắt đầu tái diễn trong nhiều trường hợp các phương thức du canh lại tích cực góp sức vào quá trình tái tạo vào rừng.
Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay thế rừng bằng một loại diễn thế cây tái sinh mà đối với người du canh lại sinh lợi nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu. Jordan (1980) [13] đã nghiên cứu sự rửa trôi của các chất Kali, Magie và Nitơ trong năm đầu trồng hoa màu như khoai mì, dứa, điều và cây khoai mỡ. Các chất dinh dưỡng trong đất CTNR giảm dần do hoa màu được thu hoạch mang đi qua hệ thống, chất hữu cơ bị ô xi hóa mất đi, do bị rửa trôi hay bị xói mòn lôi cuốn theo dòng chảy trên bề mặt.