Tổng quan nghiên cứu

Năm 2019, ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc khi đón trên 14 triệu lượt du khách, tăng 14% so với năm 2018, mang lại tổng doanh thu 29.487 tỷ đồng và đóng góp 3.568 tỷ đồng vào ngân sách nội địa. Trong bức tranh phát triển sôi động đó, đảo Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn, nằm cách trung tâm huyện khoảng 40 km, nổi lên như một điểm đến sinh thái biển đảo giàu tiềm năng. Được xác định là một trong bốn cụm du lịch trọng điểm theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Khu kinh tế Vân Đồn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đảo sở hữu nhiều tài nguyên vô giá như 14 ha rừng Trâm nguyên sinh thuần loại trên 100 năm tuổi, 30 ha rừng ngập mặn, 100 ha thảm cỏ biển cùng chuỗi bãi tắm cát trắng tự nhiên dài hàng cây số.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng lượng khách sau khi đảo hòa lưới điện quốc gia cuối năm 2014 đã bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng. Hoạt động du lịch phát triển tự phát, mang tính thời vụ gay gắt, gây áp lực nặng nề lên hạ tầng cấp nước ngọt, xử lý rác thải và làm gia tăng nguy cơ suy thoái môi trường ven bờ. Đề tài luận văn tập trung đánh giá toàn diện sức tải môi trường du lịch tại hai xã Quan Lạn và Minh Châu trong giai đoạn 2015 - 2020. Mục tiêu then chốt là lượng hóa ngưỡng chịu tải tự nhiên, sinh thái và kinh tế - xã hội, từ đó cung cấp luận cứ khoa học vững chắc nhằm thiết lập hạn ngạch đón khách, bảo vệ hệ sinh thái biển và định hình các chính sách quản lý bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá sức tải du lịch theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1981) và mô hình tích hợp ba trụ cột của Coccossis và Mexa (2004). Sức tải du lịch được hiểu là số lượng du khách tối đa có thể tiếp nhận tại một thời điểm mà không gây hủy hoại môi trường tự nhiên, không làm suy giảm chất lượng trải nghiệm của khách và không phá vỡ cấu trúc văn hóa bản địa.

Mô hình nghiên cứu triển khai thông qua ba nhóm chỉ số then chốt:

  • Nhóm chỉ số tự nhiên - sinh thái: Tập trung lượng hóa sức chịu tải vật lý (PCC), sức chịu tải thực tế (ERCC) của bãi biển, năng lực cung cấp nước sạch, tỷ lệ tiêu thụ năng lượng và tải lượng ô nhiễm nước thải, rác thải sinh hoạt theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT.
  • Nhóm chỉ số xã hội - nhân khẩu học: Phân tích mật độ du khách trên dân số thường trú, mức độ biến đổi sinh kế bản địa và tỷ lệ hài lòng của cộng đồng.
  • Nhóm chỉ số kinh tế - chính trị: Đo lường tỷ trọng đóng góp của du lịch vào cơ cấu kinh tế địa phương và hiệu lực của các công cụ điều tiết quản lý nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đa dạng các phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực địa với cỡ mẫu 130 đối tượng, bao gồm 80 hộ dân sinh sống, kinh doanh tại xã Quan Lạn, Minh Châu và 50 du khách. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát các nhóm hộ làm dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và sản xuất nông - ngư nghiệp truyền thống.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu lãnh đạo Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vân Đồn, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Bái Tử Long và các chuyên gia từ Đại học Hạ Long để thẩm định bộ tiêu chí sức tải.
  • Phương pháp quan trắc môi trường: Tác giả phối hợp với Trung tâm Phân tích FPD (đạt chuẩn Quốc gia Vilas 475 và chứng nhận Vimcert 043 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) tiến hành lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu vi sinh, hóa lý trong nước biển ven bờ, nước dưới đất và không khí vào ngày 09/5/2020.
  • Phương pháp phân tích thống kê và đánh giá bán định lượng: Sử dụng công thức Ceballos-Lascurain để tính toán sức tải vật lý và sức tải thực tế dựa trên diện tích bãi tắm với hệ số hiệu chỉnh môi trường tự nhiên, đối sánh trực tiếp với tiêu chuẩn xây dựng QCVN 01:2019/BXD và tiêu chuẩn lưu trú TCVN 4391-2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh tương phản sâu sắc giữa tiềm năng không gian và năng lực đáp ứng thực tế của hạ tầng môi trường đảo Quan Lạn:

  • Về sức tải vật lý bãi biển: Tổng chiều dài bờ cát dành cho du lịch rất lớn với bãi Sơn Hào dài hơn 2,3 km, bãi Quan Lạn dài 2,1 km và bãi Minh Châu dài 1,1 km. Căn cứ theo tiêu chuẩn diện tích tối thiểu 10 m²/người, sức tải vật lý lý thuyết của các bãi tắm có thể đáp ứng hàng chục nghìn lượt khách mỗi ngày. Tuy nhiên, khi áp dụng các hệ số hiệu chỉnh về bức xạ mặt trời, độ dốc và thời gian tắm thích hợp, sức chịu tải thực tế bị thu hẹp đáng kể, thường xuyên chạm ngưỡng quá tải cục bộ tại bãi Minh Châu vào các khung giờ cao điểm mùa hè.
  • Về áp lực chất thải và cơ sở lưu trú: Toàn đảo có sự gia tăng nhanh chóng về phòng nghỉ nhưng phân bố không đồng đều. Công suất buồng phòng vào các dịp cuối tuần tháng 5 đến tháng 7 đạt từ 85% đến 95%, nhưng vào mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) tỷ lệ này giảm sâu xuống dưới 20%. Lượng nước thải sinh hoạt vào mùa cao điểm tăng gấp 4 đến 5 lần so với ngày thường, trong khi cả hai xã đều chưa có trạm xử lý nước thải tập trung.
  • Về chất lượng môi trường nền: Kết quả phân tích mẫu nước biển ngày 09/5/2020 cho thấy hầu hết các thông số đều đạt chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT, song tại các khu vực tập trung bến cảng Cồn Trụi và bến Quan Lạn, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và vi sinh Coliform đã có dấu hiệu tăng cục bộ.
  • Về tác động kinh tế - xã hội: Toàn đảo có khoảng 96 cơ sở tiểu thủ công nghiệp và sản xuất nhỏ. Dù du lịch tạo thêm việc làm, chỉ có khoảng 38% người dân địa phương tham gia trực tiếp và hưởng lợi bền vững từ chuỗi giá trị du lịch, phần lớn lao động phục vụ còn thiếu kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quá tải cục bộ tại Quan Lạn bắt nguồn từ tính chất mùa vụ sâu sắc của du lịch biển đảo miền Bắc kết hợp với sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Khi dữ liệu được mô hình hóa qua biểu đồ tương quan giữa lượng khách theo tháng và tải lượng rác thải phát sinh, đường đồ thị thể hiện sự phân hóa cực đoan: đỉnh điểm tiêu thụ nước sạch và xả thải tập trung dồn dập trong 90 ngày hè, vượt xa công suất của hệ thống bãi chôn lấp thủ công trên đảo.

So sánh với bài học thành công từ Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và kinh nghiệm kiểm soát sức tải của đảo Boracay (Philippines), Quan Lạn đang đứng trước ranh giới mong manh giữa tăng trưởng kinh tế ngắn hạn và suy thoái môi trường lâu dài. Nếu không sớm áp dụng cơ chế kiểm soát lượng khách theo sức tải thực tế (ERCC), các giá trị tài nguyên sinh thái như rừng Trâm cổ thụ và thảm cỏ biển sẽ chịu tổn thương không thể phục hồi, làm suy giảm trực tiếp doanh thu du lịch theo quy luật ngưỡng sức chứa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, tác giả kiến nghị bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm kiểm soát sức tải và thúc đẩy du lịch sinh thái bền vững:

  • Thiết lập cơ chế phân luồng và quản lý hạn ngạch du khách: Ban Quản lý cảng biển và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vân Đồn cần triển khai hệ thống vé điện tử đặt trước, giới hạn số lượng khách lưu trú tối đa không vượt quá 4.500 người/ngày vào mùa cao điểm, kiểm soát nghiêm ngặt lưu lượng tàu cao tốc xuất bến từ cảng Cái Rồng ra đảo giai đoạn 2021 - 2023.
  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng xử lý môi trường: UBND huyện Vân Đồn phối hợp Ban Quản lý Khu kinh tế Vân Đồn đầu tư xây dựng 02 trạm xử lý nước thải sinh hoạt công nghệ sinh học công suất 500 m³/ngày-đêm tại Quan Lạn và Minh Châu; lắp đặt lò đốt rác y tế và dây chuyền ép phân loại rác thải sinh hoạt công suất 10 tấn/ngày hoàn thành trước năm 2024.
  • Đa dạng hóa sản phẩm du lịch để giảm áp lực mùa vụ: Sở Du lịch Quảng Ninh cùng các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các tour du lịch văn hóa - tâm linh gắn với cụm Di tích lịch sử Quốc gia Đình - Chùa - Miếu Quan Lạn, trải nghiệm Lễ hội đình Quan Lạn (Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia theo Quyết định 4587/QĐ-BVHTT&DL) và tuyến dã ngoại nghiên cứu 14 ha rừng Trâm cổ thụ, kéo dài thời gian lưu trú bình quân từ 1,8 ngày lên 2,5 ngày trong giai đoạn 2022 - 2025.
  • Phát triển mô hình du lịch cộng đồng và thu phí bảo tồn: UBND xã Minh Châu và Quan Lạn triển khai cơ chế trích từ 5% đến 10% doanh thu phí tham quan vào Quỹ bảo tồn sinh thái biển địa phương; tổ chức tập huấn tiêu chuẩn lưu trú du lịch xanh cho 100% chủ cơ sở homestay trên đảo trước năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và bộ dữ liệu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và tài nguyên môi trường: Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cùng UBND huyện Vân Đồn sử dụng làm căn cứ khoa học để thẩm định quy hoạch phân khu, cấp phép xây dựng các dự án nghỉ dưỡng và xây dựng định mức hạn ngạch đón khách hàng năm.
  • Doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh lữ hành: Các tập đoàn phát triển bất động sản nghỉ dưỡng và công ty du lịch tham khảo bộ tiêu chuẩn sức chứa bãi biển, định mức tiêu thụ nước 150 - 200 lít/người/ngày để thiết kế công trình lưu trú sinh thái đạt chuẩn TCVN 4391-2015.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Quản lý Môi trường, Du lịch học: Đề tài cung cấp tài liệu học thuật giá trị về quy trình áp dụng công thức tính sức tải vật lý PCC và sức tải thực tế ERCC trên vùng địa bàn sinh thái biển đảo nhạy cảm.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng số liệu quan trắc nền và hiện trạng rừng ngập mặn, thảm cỏ biển để xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế cộng đồng ven biển Vịnh Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

  • Sức tải môi trường du lịch tại đảo Quan Lạn được đánh giá qua các nhóm chỉ số nào? Luận văn áp dụng bộ chỉ số toàn diện của Coccossis và Mexa (2004) gồm ba trụ cột: nhóm tự nhiên - sinh thái (sức tải bãi biển, chất lượng nước, không khí, rác thải); nhóm xã hội - nhân khẩu (mật độ dân số trên khách, mức độ hài lòng); nhóm kinh tế - chính trị (doanh thu, việc làm mùa vụ và quy hoạch quản lý).

  • Vì sao đảo Quan Lạn thường xuyên chịu cảnh quá tải cục bộ vào mùa hè? Nguyên nhân chủ yếu do hơn 80% lượng khách tập trung vào các tháng 5, 6 và 7 để tắm biển, tạo nên sự chênh lệch cung cầu gay gắt. Trong khi đó, mùa đông thời tiết chuyển lạnh khiến cơ sở lưu trú gần như đóng băng, tạo nên tính thời vụ nặng nề cho toàn bộ hạ tầng kỹ thuật trên đảo.

  • Việc du khách vượt quá sức chịu tải thực tế (ERCC) gây tổn hại trực tiếp nào đến hệ sinh thái đảo? Tình trạng quá tải khiến lượng rác thải rắn sinh hoạt vượt quá công suất thu gom thủ công, nước thải chưa xử lý thẩm thấu vào tầng nước ngầm ven biển. Đồng thời, nguy cơ xâm hại 14 ha rừng Trâm tự nhiên và 100 ha thảm rong cỏ biển gia tăng do hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu kiểm soát.

  • Công thức toán học nào được dùng để tính toán sức chứa khách du lịch bãi biển? Nghiên cứu ứng dụng công thức Ceballos-Lascurain để xác định sức tải vật lý PCC dựa trên diện tích bãi tắm và mật độ tiêu chuẩn 10 m²/khách, sau đó nhân với các hệ số hiệu chỉnh môi trường tự nhiên Cfi (nhiệt độ, gió, triều cường) để đưa ra chỉ số sức tải thực tế ERCC chính xác.

  • Cộng đồng dân cư bản địa có vai trò như thế nào trong giải pháp sức tải bền vững? Người dân bản địa là chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ homestay, bảo vệ cảnh quan và giữ gìn di sản văn hóa Lễ hội đình Quan Lạn. Phát triển du lịch cộng đồng giúp phân bổ đều nguồn thu nhập, hạn chế phụ thuộc vào các dự án thương mại hóa quy mô lớn phá vỡ cấu trúc tự nhiên.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập cơ sở khoa học hoàn chỉnh và hệ thống phương pháp luận định lượng sức tải môi trường du lịch áp dụng thành công cho địa bàn hải đảo đặc thù.
  • Đánh giá chính xác thực trạng sức chứa của các bãi biển trọng điểm gồm Sơn Hào (2,3 km), Quan Lạn (2,1 km), Minh Châu (1,1 km), chỉ ra điểm nghẽn hạ tầng cấp nước và xử lý chất thải sinh hoạt.
  • Cung cấp nguồn dữ liệu quan trắc thực địa có giá trị pháp lý về chất lượng môi trường nước biển, nước ngầm và không khí theo các quy chuẩn hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp đồng bộ gắn liền với lộ trình hành động giai đoạn 2021 - 2025, định hướng địa phương cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo tồn sinh thái.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo then chốt phục vụ công tác quy hoạch phát triển bền vững Khu kinh tế Vân Đồn và mở ra hướng nghiên cứu mở rộng cho hệ thống đảo ven bờ Vịnh Bắc Bộ.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn dữ liệu và mô hình tính toán sức tải trong luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn và xây dựng các chính sách phát triển du lịch biển đảo bền vững.