Chương 1 – Dẫn nhập; Chương 2 – Giới thiệu về chính sách xây dựng NTM; Chương 3 - Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; Chương 4 – Nghiên cứu điểm về sự tham gia của người dân trong Chương trình xây dựng NTM tại hai xã Bình Dương và Bình Hiệp; Chương 5 – Kết luận và kiến nghị. GIỚI THIỆU VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Chính sách xây dựng NTM đã bắt đầu từ cuối những năm 90. Tuy nhiên, mãi đến năm 2008, chính sách xây dựng NTM mới thực sự có những chuyển biến mạnh mẽ. Trước tiên, với việc ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW, những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn: (1) khẳng định vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình phát triển đất nước.
(2) Nhìn nhận mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một thể thống nhất. Nông dân là chủ thể của quá trình xây dựng, phát triển NTM. (3) Đề cao tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, đã tạo nền tảng quan trọng cho chính sách. Sau đó, vào ngày 30/12/2008, Ban Bí thư ban hành Quyết định 205- QĐ/TW thành lập Ban chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng NTM và lựa chọn 11 xã điểm xây dựng NTM.
Trong năm 2009, để làm căn cứ đánh giá xây dựng NTM, Quyết định 491QĐ/TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM đã được phê duyệt. Đến năm 2010, Chương trình xây dựng NTM chính thức trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM Khởi đầu từ những ý tưởng phát triển nông nghiệp, nông thôn vào năm 2001, Chương trình xây dựng NTM chính thức trở thành Chương trình mục tiêu quốc gia vào ngày 04 tháng 06 năm 2010 khi Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định 800/QĐ- TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020. Khác với những chương trình phát triển nông thôn trước đây, Chương trình xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn.
Theo Quyết định 800/QĐ-TTg, chương trình gồm 11 nội dung, mỗi nội dung bao gồm 1 hoặc 1 số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM (xem phụ lục 7). Cụ thể: Bảng 2-1. Các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Stt Nội dung Tiêu chí tương ứng -6- 1 Quy hoạch xây dựng NTM Tiêu chí số 1 2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Các tiêu chí 2 – 9 3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập Tiêu chí số 10, 12 4 Giảm nghèo và an sinh xã hội Tiêu chí số 11 5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu Tiêu chí số 13 quả ở nông thôn 6 Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn Tiêu chí số 5 và 13 7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn Tiêu chí số 5 và 15 8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông Tiêu chí số 6 và 16 thôn 9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Tiêu chí số 17 10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể Tiêu chí số 18 chính trị - xã hội trên địa bàn 11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Tiêu chí số 19 Nguồn: Quyết định 800 QĐ/TTg Thứ tự các nội dung được thực hiện tùy thuộc vào nguồn lực của địa phương, trong đó có ưu tiên thực hiện các nội dung về quy hoạch, đào tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng. Xã đạt chuẩn NTM phải đảm bảo các điều kiện: có đăng ký xã đạt chuẩn nông thôn mới và được UBND cấp huyện xác nhận; có 100% tiêu chí thực hiện trên địa bàn xã đạt chuẩn theo quy định (theo Quyết định 372 QĐ/TTg).
Tiêu chuẩn của các tiêu chí có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng miền. Hiện nay, bộ tiêu chí đánh giá NTM căn cứ trên Quyết định 491/QĐ-TTg – Quyết định về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định 342/QĐ-TTg – Quyết định sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. -7- Ngoài ra, theo Quyết định 800/QĐ-TTg và Thông tư 26/2011/TTLT- BNNPTNT-BKHĐT-BTC – Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ- TTg, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM còn bao gồm một số nội dung: Chương trình được điều hành, quản lý bởi các Ban Chỉ đạo được thành lập từ trung ương đến huyện, Văn phòng điều phối là cơ quan giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp Trung ương, cấp tỉnh/thành phố, Cơ quan thường trực điều phối là cơ quan giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp huyện. Ở cấp xã, vì là đơn vị triển khai Chương trình nên vừa có Ban Chỉ đạo vừa có Ban quản lý.3 Và cấp quản lý cuối cùng là Ban phát triển thôn.
Ban Chỉ đạo tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về chất lượng, tiến độ, hiệu quả Chương trình trên địa bàn của mình (hình 2. Bộ máy điều hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM Ban chỉ đạo Trung ương Văn phòng điều phối Ban chỉ đạo tỉnh Văn phòng điều phối tỉnh Ban chỉ đạo huyện Cơ quan thường trực điều phối Ban quản lý xã Ban phát triển thôn Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên Quyết định số 1013/QĐ-TTg và Thông tư 26/2011/TTLT- BNNPTNT-BKHĐT-BTC 3 Tùy vào điều kiện của mỗi địa phương mà UBND cấp tỉnh quyết định có nên thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã hay không. -8- Nguồn vốn thực hiện chương trình bao gồm 4 nguồn chính: Thứ nhất, vốn ngân sách (Trung ương và địa phương) tài trợ trực tiếp cho chương trình khoảng 17% và vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ đang và sẽ tiếp tục triển khai tại địa phương chiếm khoảng 23%. Thứ hai, vốn tín dụng, bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại, chiếm khoảng 30%.
Thứ ba, vốn từ các doanh nghiệp, HTX và các loại hình kinh tế khác chiếm 20%. Cuối cùng, huy động đóng góp của cộng đồng dân cư khoảng 10% (hình 2. Cơ cấu vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Cơ cấu vốn theo Quyết định Cơ cấu vốn đầu tư thực tế trong 800 QĐ/TTg 3 năm (2011 – 2013) Nguồn: Quyết định 800/QĐ-TTg và Hội nghị sơ kết 3 năm xây dựng nông thôn mới4 Đến nay, sau 3 năm thực hiện chương trình (2011 – 2013), kết quả đạt được chỉ ở con số khiêm tốn với 2,05% xã đạt chuẩn NTM trên 9.025 xã tham gia chương trình (Thiên Hương, Thanh Xuân, 2014). Để đạt được mục tiêu 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM vào năm 2015 hay xa hơn là 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM vào năm 2020, Chương trình xây dựng nông thôn vẫn còn nhiều mặt cần phải hoàn thiện, thay đổi.
Những đột phá trong tư tưởng, cơ chế là yêu cầu cần thiết để chương trình đi vào thực 4 Tại hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết trong 3 năm 2011 - 2013, Chương trình xây dựng NTM đã huy động được 485.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước các cấp hỗ trợ trực tiếp chiếm 11,4%, vốn lồng ghép của các chương trình chiếm 23,1%, vốn tín dụng chiếm 47,7%, các doanh nghiệp hỗ trợ chiếm 6% và người dân đóng góp chiếm 13%, truy cập ngày 23/05/2014 tại địa chỉ: http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=20207&cn_id=652431 -9- tiễn đời sống và trở thành một phong trào có sức sống lâu dài cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Những quy định về vai trò của người dân trong xây dựng NTM Xét trên góc độ pháp lý, có nhiều văn bản đề cập đến vai trò người dân trong xây dựng NTM nhưng chủ yếu được thể hiện trong 4 văn bản: Thứ nhất, Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn quy định về những vấn đề người dân được biết, bàn bạc, ý kiến, thực hiện, kiểm tra là cơ sở để xác định những hoạt động người dân được tham gia trong xây dựng NTM. Thứ hai, Nghị quyết 26-NQ/TW đưa ra những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng, phát triển NTM. Thứ ba, Quyết định 800/QĐ-TTg, với những quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng trong quy hoạch, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông, cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và mức đóng góp xây dựng NTM, đã cho thấy vai trò của người dân theo quyết định này chỉ ở mức độ là người được tham vấn (ý kiến).
Cuối cùng, Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã năm 2010 là văn bản thể hiện đầy đủ và chi tiết nhất về vai trò của người dân trong xây dựng NTM. Ở mức độ thấp, người dân tham gia với vai trò là người đóng góp công sức, tiền của xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang nơi ở,… Ở các mức độ cao hơn, vai trò của người dân thay đổi thông qua hoạt động mà họ tham gia, cụ thể: Khi tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ quy hoạch NTM cấp xã, người dân đóng vai trò là người được tham vấn; Khi tham gia lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với kế hoạch khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã, người dân đóng vai trò là người được quyết định; Khi cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, người dân đóng vai trò là người giám sát; Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành, người đóng vai trò là người quản lý. -10- Thông qua phân tích ở trên, ta nhận thấy vai trò của người dân được thể hiện trong các văn bản rất đa dạng, từ vai trò người tham gia thụ động trong tiếp nhận thông tin, đóng góp công sức, tiền của cho đến vai trò là người quan lý các công trình NTM. Khi người dân tham gia xây dựng NTM với tất cả những vai trò đấy, họ thật sự là người giữ vai trò chính trong hoạt động này.