ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa trong giáo dục đại học, cao đẳng phát triển mạnh mẽ. Số lượng các cơ sở đào tạo nhân lực dược trình độ cao đẳng ngày càng tăng trong đó bao gồm cơ sở công lập và ngoài công lập. Việc đo lường sự hài lòng của SV trở nên rất hữu ích cho các cơ sở giáo dục, nó giúp họ xác định điểm mạnh và xác định các vấn đề để cải thiện. Đánh giá sự hài lòng của SV thậm chí vượt qua đánh giá vấn đề giảng dạy, bởi nó bao gồm các khía cạnh rộng hơn mang đến sự hài lòng tổng thể từ SV.
Các cơ sở đào cung cấp dịch vụ đào tạo, SV chính là khách hàng sử dụng dịch vụ này do đó cần phải hiểu mức độ hài lòng hiện tại vì kì vọng tương lai của SV để có thể làm căn cứ cải thiện chất lượng hoạt động giảng dạy của GV. Chính vì vậy, việc đánh giá sự hài lòng của SV đối với hoạt động giảng dạy nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà quản lý, các GV tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay. Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương là trường công lập được thành lập. Hiện nay, Trường đào tạo 4 mã ngành gồm Y sỹ, Điều dưỡng, Hộ sinh và Dược sĩ với các trình độ trung cấp và cao đẳng; bao gồm các hình thức đào tạo chính quy, liên thông vừa làm vừa học và vừa làm vừa học.
Ngoài ra Trường còn đào tạo các khóa học ngắn hạn về chuyên ngành Răng hàm mặt, Y học cổ truyền và một số lớp đào tạo liên tục cho ngành Y tế tỉnh Bình Dương. Trong năm học 2021 – 2022, số lượng SV dược là 946, chiếm 60% trong tổng số 1568 SV toàn trường. Chính vì vậy, hoạt động giảng dạy đối với sinh viên dược cần được quan tâm. Tuy nhiên, hiện nay nhà trường chỉ thực hiện lấy ý kiến người học về hoạt động đào tạo nói chung mà chưa có đánh giá về sự hài lòng của sinh viên dược đối với hoạt động giảng dạy.
Đặc biệt trong bối cảnh khi tình hình dịch Covid-19 đang diễn từ năm 2021-2022 bổ sung thêm các hình thức dạy học trực tuyến kết hợp với trực tiếp. 1 Theo rà soát y văn cho thấy, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về sự hài lòng của SV với hoạt động giảng dạy. Tuy nhiên với bối cảnh hoạt động giảng dạy trực tiếp và trực tuyến diễn ra, việc đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên dược đối với hoạt động giảng dạy cần thiết được thực hiện tại trường CĐYT Bình Dương. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên với hoạt động giảng dạy của giảng viên tại Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương năm học 2021-2022” với mục tiêu: 1.
Xác định mức độ hài lòng của sinh viên dược với hoạt động giảng dạy tại Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương năm học 2021-2022. Phân tích mức độ hài lòng của sinh viên dược với hoạt động giảng dạy trực tiếp và trực tuyến (online) tại Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương năm học 2021-2022. MỘT VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC CAO ĐẲNG 1. Khái niệm về hoạt động giảng dạy Trong lịch sử phát triển của giáo dục, hoạt động dạy học tồn tại như một “hoạt động xã hội”.
Vì vậy, hoạt động phải xây dựng được “nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động” và hoạt động đó phải được thực hiện bởi các “chủ thể nhất định” [1]. Quá trình dạy học là “một hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố cấu trúc có quan hệ biện chứng với nhau”. Các thành tố đó là: “mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, GV…”[2]. Biggs (1999) mô tả hoạt động giảng dạy như một hệ thống cân bằng, trong đó tất cả các thành phần hỗ trợ lẫn nhau.
Các thành phần quan trọng của hoạt động giảng dạy bao gồm: chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, quá trình đánh giá, bầu không khí lớp học và môi trường thể chế[33]. Như vậy, hoạt động dạy học đại học tồn tại như là một hệ thống với các thành phần cơ bản như: “Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học, hoạt động của Giảng viên (GV) và sinh viên (SV)…” và “các nhân tố của quá trình dạy học ở đại học không tồn tại biệt lập với nhau, chúng có quan hệ, tác động qua lại một cách biện chứng, phản ánh tính quy luật của quá trình dạy học”. Chính vì vậy khi nghiên cứu về hoạt động giảng dạy của GV ta cần đề cập các nhân tố trên [34]. Về nội dung dạy học ở trình độ cao đẳng và đại học Trong mô hình hoạt động dạy – học của Dees (2007), nội dung dạy học được mô tả là nội dung thực tế giảng dạy bao gồm: kiến thức, thông tin và các kỹ năng cụ thể [34].
Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2008) cho rằng nội dung dạy học ở cao đẳng, đại học là “hệ thống những tri thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành; quy định hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng gắn liền với nghề nghiệp tương lai của SV”. Ngoài ra, nội dung dạy học còn bao gồm cả hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và nội dung về những chuẩn mực, thái độ của SV đối với tự nhiên, xã hội. Nội dung dạy học tạo nên nội dung cơ bản cho hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập, nghiên cứu của SV. Nội dung dạy học ở cao đẳng, đại học quy định việc lựa chọn và vận dụng phương pháp, phương tiện dạy học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học [1].
Greenhill (2010) đã xây dựng một khung lý thuyết về kiến thức và kỹ năng mà SV cần phải nắm vững. Trong đó, ông nhấn mạnh: bên cạnh kiến thức chuyên ngành, SV cần phải được trang bị các kiến thức liên ngành khác về: nhận thức toàn cầu, kinh tế, tài chính, môi trường, quyền công dân…Song song đó, họ còn phải được rèn luyện các phẩm chất và kỹ năng quan trọng như: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, hợp tác, sáng tạo và không ngừng đổi mới,… kỹ năng công nghệ thông tin truyền thông, kỹ năng sống và làm việc [35]. Theo McKeachie (1986), để giảng dạy kiến thức cho SV hiệu quả, GV cần phải nắm vững ba loại kiến thức sau đây: - Kiến thức môn học: Đây là kiến thức liên quan đến các khái niệm, nguyên lý và phương pháp tư duy sẽ truyền tải đến SV. Vì vậy GV cần thiết 4 phải biết cách tổ chức để đưa kiến thức đến với SV từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến khái quát và từ khái quát đến chi tiết, cụ thể.
- Kiến thức sinh viên đang có: Giảng dạy là việc kết nối giữa những kiến thức GV truyền đạt với kiến thức có sẵn ở SV. Do vậy, GV không thể làm tốt việc này mà không hiểu SV của họ đang biết và nghĩ gì. - Kiến thức về phương pháp và kỹ năng giảng dạy: để tạo điều kiện thúc đẩy SV học tốt, tiếp thu bài dễ dàng và ứng dụng được những kiến thức mình đã học [36]. Cùng với xu hướng phát triển của thời đại khoa học - công nghệ, nội dung dạy học ở đại học phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện theo các hướng sau: - Thứ nhất nội dung dạy học ở đại học phải phù hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo nói chung và các nhiệm vụ dạy học ở đại học nói riêng.
Nghĩa là nội dung dạy học phải phản ánh đậm nét những tri thức khoa học cơ bản, cơ sở và chuyên sâu về các lĩnh vực chuyên ngành. Trên cơ sở các tri thức này, GV rèn luyện cho SV các kỹ năng tương ứng; đồng thời bồi dưỡng phương pháp luận, phương pháp tự học, tự nghiên cứu khoa học cho SV. Nội dung dạy học phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, tính lôgic khoa học chặt chẽ, sự cân đối giữa lí thuyết và thực hành, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục. - Thứ hai cần phải hiện đại hóa nội dung dạy học ở đại học.
Bởi lẽ thực tiễn của thời đại ngày nay là sự bùng nổ và phát triển vượt bậc về khoa học – kỹ thuật – công nghệ. Thực tiễn đó đòi hỏi phải không ngừng phản ánh những thành tựu mới nhất về các lĩnh vực khoa học vào nội dung chương trình dạy học ở đại học. Đó là một yêu cầu cấp bách trong giáo dục – đào tạo nhằm tiến tới cập nhật hóa, quốc tế hóa trong giáo dục. - Thứ ba là cần phải tăng cường tính tư tưởng và tính nhân văn trong nội dung dạy học ở đại học.
Nghĩa là cùng với việc trang bị nội dung tri thức, 5 nội dung dạy học ở đại học phải mang tính chất giáo dục tư tưởng đạo đức, giáo dục ý thức công dân, lòng nhân ái, sự khoan dung và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng…Tính tư tưởng và tính nhân văn phải được lồng ghép và phản ánh đậm nét vào nội dung từng bài giảng tùy theo tính chất và đặc trưng của môn học. - Thứ tư nội dung dạy học ở đại học phải phản ánh được thực tiễn đời sống xã hội của đất nước nói chung và thực tiễn giáo dục – đào tạo nói riêng. Việc xác định nội dung dạy học ở đại học phải xuất phát từ thực tiễn đa dạng và phong phú của cách mạng khoa học, kỹ thuật, của kinh tế tri thức, của cơ chế thị trường đang sôi động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn đó cần phải được phản ánh đậm nét trong nội dung các môn học.
Điều đó thể hiện mối quan hệ tương tác giữa mục đích, nội dung và quy trình đào tạo ở đại học [1]. Phương pháp giảng dạy Kember và Kwan (2000) khẳng định mỗi GV có một cách tiếp cận riêng về phương pháp giảng dạy hoặc là định hướng theo nội dung giảng dạy hoặc là định hướng theo việc học của SV. Tùy theo cách tiếp cận này mà mỗi GV có các chiến lược dạy học riêng. Sự khác biệt chủ yếu là về: cách hướng dẫn, cách đánh giá, nguồn kiến thức và kỹ năng…GV thường có một phương pháp giảng dạy ổn định, tuy nhiên họ có thể thay đổi khi môi trường học tập thay đổi [37].