Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đổi mới căn bản giáo dục nghề nghiệp, việc đo lường chất lượng đào tạo thông qua mức độ hài lòng của người học đã trở thành tiêu chí cốt lõi của hệ thống đảm bảo chất lượng tại các trường đại học và cao đẳng y dược. Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương là cơ sở đào tạo công lập trọng điểm về nhân lực y tế cho tỉnh Bình Dương và khu vực lân cận. Trong năm học 2021-2022, nhà trường đào tạo 1.568 sinh viên thuộc bốn mã ngành chính, trong đó khối sinh viên ngành Dược chiếm số lượng áp đảo với 946 sinh viên, tương đương 60,3% tổng quy mô đào tạo toàn trường.

Giai đoạn 2021-2022 ghi nhận sự biến động lớn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, buộc nhà trường phải triển khai phương thức đào tạo kết hợp giữa học trực tuyến qua Zoom, Microsoft Teams và học trực tiếp tại giảng đường. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, nhà trường chỉ dừng lại ở việc lấy ý kiến chung về hoạt động đào tạo mà chưa có công trình khảo sát chuyên sâu nào đánh giá sự hài lòng của sinh viên Dược đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên trong điều kiện chuyển đổi mô hình linh hoạt này.

Luận văn chuyên khoa cấp I chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược của dược sĩ Lục Nguyễn Hoàng Việt, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thúy, được thực hiện từ tháng 01/2021 đến tháng 04/2022 tại Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương. Nghiên cứu hướng đến hai mục tiêu cụ thể: xác định mức độ hài lòng của sinh viên Dược đối với 5 khía cạnh trong hoạt động giảng dạy, đồng thời phân tích, so sánh sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa hình thức học trực tiếp và học trực tuyến. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, giúp ban giám hiệu và đội ngũ giảng viên đưa ra các quyết sách nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực Dược đáp ứng chuẩn năng lực ngành y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiếp cận giáo dục hiện đại, coi sinh viên là chủ thể trung tâm tiếp nhận dịch vụ đào tạo. Khung phân tích kế thừa lý thuyết về sự hài lòng khách hàng của Oliver và Philip Kotler, kết hợp với các nghiên cứu thực chứng của Ehsan Malik và Basheer Al-Alak trong giáo dục đại học, khẳng định chất lượng dịch vụ giảng dạy là tiền đề quyết định mức độ thỏa mãn của người học. Song song đó, tác giả vận dụng mô hình hệ thống dạy học của Biggs, quan điểm tiếp cận nội dung dạy học của Dees, Greenhill và McKeachie, phân chia hoạt động giảng dạy thành 5 thành tố cấu trúc hữu cơ:

Thứ nhất, Phương tiện giảng dạy bao gồm cơ sở vật chất, máy chiếu, thiết bị tin học và học liệu thực hành y dược theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thứ hai, Nội dung giảng dạy phản ánh tính cập nhật, cân đối giữa khối lượng lý thuyết và kỹ năng nghề nghiệp thực tế. Thứ ba, Phương pháp giảng dạy thể hiện năng lực sư phạm, giải đáp thắc mắc và kích thích động lực học tập. Thứ tư, Quan hệ giao tiếp và tác phong sư phạm phản ánh thái độ, chuẩn mực đạo đức nhà giáo và kỹ năng quản lý lớp học. Thứ năm, Kiểm tra đánh giá gắn liền với tính công bằng, minh bạch và bám sát mục tiêu học phần. Nghiên cứu chuẩn hóa hệ thống 43 biến quan sát trên thang đo khoảng Likert 5 mức độ từ 1 điểm (Rất không đồng ý) đến 5 điểm (Rất đồng ý).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hai giai đoạn: định tính sơ bộ và định lượng chính thức. Giai đoạn 1 tiến hành khảo sát thử nghiệm trên 20 sinh viên để hoàn thiện bộ công cụ, đạt hệ số tin cậy Cronbach's Alpha tổng thể từ 0,778 đến 0,955 cho 6 thang đo thành phần. Cỡ mẫu nghiên cứu chính thức được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với tỷ lệ hài lòng ước tính p bằng 0,7 (từ nghiên cứu thử nghiệm), độ tin cậy 95% (Z bằng 1,96) và sai số tuyệt đối d bằng 0,05, cho ra cỡ mẫu tối thiểu là 322 sinh viên.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được triển khai trên toàn bộ sinh viên Dược các hệ chính quy khóa 10, 11, hệ liên thông khóa 7, 8 và hệ vừa học vừa làm khóa 7, 8, 9 đang học tập trong năm học 2021-2022. Quá trình phát phiếu trực tiếp thu về 485 phiếu trên tổng số 500 phiếu phát ra. Sau khi loại bỏ 136 phiếu không hợp lệ (do chọn một mức độ cho tất cả các câu hoặc không vượt qua câu hỏi bẫy kiểm tra tính trung thực), mẫu phân tích chính thức đạt 349 sinh viên hợp lệ, gồm 146 sinh viên năm nhất, 141 sinh viên năm hai và 62 sinh viên năm ba.

Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích thống kê là nhằm kiểm định tính phân phối chuẩn của dữ liệu thông qua kiểm định độ lệch Skewness, từ đó áp dụng các thuật toán phù hợp: sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định Chi-bình phương (hoặc Fisher's exact), Independent Samples T-Test (hoặc Mann-Whitney) và ANOVA (hoặc Kruskal-Wallis) ở mức ý nghĩa thống kê p nhỏ hơn 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 349 sinh viên Dược mang lại những số liệu định lượng chi tiết trên 5 nhóm yếu tố cấu thành chất lượng giảng dạy:

Thứ nhất, khía cạnh Quan hệ giao tiếp và tác phong sư phạm của giảng viên đạt điểm đánh giá cao nhất toàn diện với mức trung bình 4,55 trên 5 điểm (mức Rất tốt). Trong đó, tiêu chí giảng viên có phong cách trình bày tự tin, làm chủ bài giảng đạt mức điểm kỷ lục 4,59 điểm, và tiêu chí giảng viên có trách nhiệm với môn học đạt 4,57 điểm.

Thứ hai, khía cạnh Kiểm tra đánh giá và Phương pháp giảng dạy lần lượt xếp tiếp theo với điểm trung bình đạt 4,47 điểm và 4,46 điểm (mức Tốt). Đáng chú ý, 89,7% sinh viên đánh giá cao tiêu chí giảng viên nhấn mạnh kiến thức trọng tâm bài học với 4,57 điểm, và tiêu chí tổ chức kiểm tra đúng quy định đạt 4,52 điểm.

Thứ ba, khía cạnh Nội dung giảng dạy đạt 4,44 điểm và Phương tiện giảng dạy đạt 4,39 điểm. Ở nhóm phương tiện, tiêu chí giảng viên cung cấp đầy đủ tài liệu học tập đạt 4,54 điểm. Tuy nhiên, tiêu chí trang thiết bị giảng dạy đảm bảo chất lượng chỉ đạt 4,09 điểm – là biến số có điểm số thấp nhất trong toàn bộ 43 chỉ báo khảo sát.

Thứ tư, khi so sánh đối sánh giữa hai hình thức học tập, tỷ lệ sinh viên luôn luôn tham gia học trực tiếp đạt 79,4%, cao hơn đáng kể so với mức 67,9% của hình thức học trực tuyến. Điểm hài lòng của sinh viên khi học trực tiếp vượt trội hơn học trực tuyến ở 3 khía cạnh có ý nghĩa thống kê: Phương tiện giảng dạy (4,33 điểm so với 4,22 điểm; giá trị p bằng 0,006), Tác phong sư phạm (4,54 điểm so với 4,48 điểm; giá trị p bằng 0,020) và Kiểm tra đánh giá (4,53 điểm so với 4,44 điểm; giá trị p bằng 0,000). Hai khía cạnh Nội dung và Phương pháp không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p lần lượt là 0,139 và 0,194).

Thứ năm, phân tích tương quan nhân khẩu học cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hài lòng giữa nam và nữ (giá trị p từ 0,101 đến 0,744), giữa nhóm sinh viên có điểm trung bình học tập dưới 7,0 và từ 7,0 trở lên (p từ 0,087 đến 0,744), cũng như giữa các khối sinh viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba (p từ 0,074 đến 0,722).

Thảo luận kết quả

Kết quả mức độ hài lòng chung của sinh viên Dược Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương đạt mức từ 4,39 đến 4,55 điểm trên thang điểm 5, phản ánh năng lực chuyên môn và nhiệt huyết nghề nghiệp rất cao của đội ngũ giảng viên. Khi so sánh với các công bố khoa học cùng chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp, điểm số này vượt trội hơn nghiên cứu của Nguyễn Bích Như tại Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng (điểm hài lòng chung đạt 3,80 điểm) và nghiên cứu của Dương Thị Phương Liên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn (3,34 đến 3,57 điểm), đồng thời tiệm cận với nghiên cứu của Hoàng Kỳ Sơn tại Trường Đại học Khoa học Huế (4,10 điểm).

Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa học trực tiếp và học trực tuyến tập trung chủ yếu vào yếu tố hạ tầng công nghệ. Dù nhà trường được trang bị 89 máy chiếu Projector, 89 phông chiếu và 334 máy tính có kết nối mạng internet ADSL, một số máy móc qua nhiều năm khai thác đã xuống cấp, phát sinh hiện tượng đường truyền chập chờn khi dạy online và chất lượng hình ảnh máy chiếu không đồng đều ở một số giảng đường.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu học thuật, các kết quả này có thể được trình bày tối ưu thông qua hai dạng thức: Biểu đồ mạng nhện (Radar Chart) thể hiện sự cân bằng giữa 5 trụ cột chất lượng giảng dạy, và Biểu đồ cột ghép (Grouped Bar Chart) trực quan hóa khoảng cách điểm trung bình giữa học trực tiếp và trực tuyến kèm theo các ngưỡng xác suất p-value. Sự minh họa này giúp các nhà quản lý đào tạo nhanh chóng nhận diện điểm nghẽn hạ tầng để ưu tiên nguồn lực đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng định lượng thu được từ 349 sinh viên, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa chất lượng giảng dạy:

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin và thiết bị giảng đường. Ban Giám hiệu phối hợp với Phòng Quản trị - Thiết bị rà soát, bảo dưỡng và thay thế định kỳ hệ thống 89 máy chiếu, bổ sung hệ thống điều hòa nhiệt độ tại các phòng học lý thuyết và nâng cấp đường truyền Internet cáp quang tốc độ cao. Mục tiêu hành động: Nâng điểm hài lòng về chất lượng trang thiết bị từ 4,09 điểm lên tối thiểu 4,50 điểm trong vòng 6 đến 12 tháng của năm học tiếp theo.

Thứ hai, đổi mới phương pháp sư phạm kích thích tư duy chủ động và tăng cường thời lượng rèn luyện tay nghề. Khoa Dược chỉ đạo các bộ môn chuyên ngành tổ chức hội thảo chuyên đề, ứng dụng phương pháp dạy học tích cực (thảo luận nhóm, tình huống lâm sàng, bài tập mô phỏng nhà thuốc). Mục tiêu hành động: Tăng điểm tiêu chí phương pháp tạo động lực học tập từ mức 4,39 điểm lên trên 4,60 điểm trước quý 4 năm 2022.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình kiểm tra đánh giá và chuyển đổi số tài liệu ôn tập. Phòng Đào tạo cùng giảng viên các bộ môn xây dựng và công khai ngân hàng câu hỏi, đề cương ôn tập trọng tâm trước mỗi kỳ thi tối thiểu 2 tuần, đồng thời duy trì tính nghiêm túc, công bằng trong khâu chấm thi. Mục tiêu hành động: Đạt tỷ lệ 100% môn học có đề cương chi tiết và công bố kết quả kiểm tra thành phần đúng quy định trong vòng 1 học kỳ.

Thứ tư, bồi dưỡng kỹ năng sư phạm số tương tác cao cho giảng viên. Trung tâm Đảm bảo chất lượng tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về quản lý lớp học ảo trên Microsoft Teams, xử lý sự cố kỹ thuật số và thiết kế bài giảng E-learning sinh động. Mục tiêu hành động: 100% giảng viên cơ hữu hoàn thành chương trình bồi dưỡng phương pháp giảng dạy trực tuyến tương tác trong năm học 2022-2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, Ban Giám hiệu và các nhà quản trị trường cao đẳng, đại học khối ngành sức khỏe. Nghiên cứu cung cấp khung đo lường 5 thành tố và dữ liệu thực chứng để hoạch định chính sách đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên và chuẩn bị hồ sơ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Thứ hai, Giảng viên chuyên ngành Dược và khoa học sức khỏe. Luận văn là tài liệu tham khảo thiết thực giúp giảng viên tự đánh giá phong cách giảng dạy, điều chỉnh tốc độ thuyết trình, tăng cường tương tác trực tuyến và cải tiến cấu trúc bài giảng cân đối giữa lý thuyết và thực hành.

Thứ ba, Học viên sau đại học và các nhà nghiên cứu giáo dục y dược. Nghiên cứu cung cấp một quy trình mẫu về thiết kế bảng hỏi chuẩn hóa 43 biến quan sát, quy trình kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và mô hình phân tích định lượng bằng SPSS có thể kế thừa và mở rộng trên các quy mô đào tạo khác.

Thứ tư, Cán bộ phòng Đảm bảo chất lượng và Khảo thí. Tài liệu cung cấp phương pháp luận khoa học trong việc tổ chức lấy ý kiến phản hồi của người học định kỳ theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và độ tin cậy của thang đo có đạt chuẩn học thuật không?

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 500 sinh viên, thu về và phân tích 349 mẫu hợp lệ từ sinh viên Dược cả 3 năm học. Bộ thang đo gồm 43 biến quan sát đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha rất cao, dao động từ 0,778 (thang đo Kiểm tra đánh giá) đến 0,955 (thang đo Phương pháp giảng dạy), vượt xa ngưỡng chuẩn 0,70 của nghiên cứu định lượng.

Tại sao sinh viên Dược đánh giá mức độ hài lòng khi học trực tiếp cao hơn học trực tuyến?

Sự chênh lệch thể hiện rõ ở 3 khía cạnh có ý nghĩa thống kê là phương tiện giảng dạy (p bằng 0,006), tác phong sư phạm (p bằng 0,020) và kiểm tra đánh giá (p bằng 0,000). Nguyên nhân chính xuất phát từ hạn chế hạ tầng mạng, sự cố gián đoạn âm thanh hình ảnh khi học online và đặc thù ngành Dược đòi hỏi tương tác trực quan cao.

Tiêu chí nào trong hoạt động giảng dạy nhận được đánh giá cao nhất và thấp nhất từ người học?

Tiêu chí đạt điểm cao nhất là phong cách trình bày tự tin, làm chủ bài giảng của giảng viên với 4,59 trên 5 điểm, tiếp theo là trách nhiệm giảng dạy và nhấn mạnh kiến thức trọng tâm (4,57 điểm). Ngược lại, tiêu chí chất lượng trang thiết bị máy móc phục vụ giảng dạy đạt điểm thấp nhất với 4,09 điểm.

Điểm trung bình học tập và giới tính của sinh viên có làm thay đổi mức độ hài lòng không?

Kết quả kiểm định thống kê khẳng định không có sự khác biệt có ý nghĩa (p lớn hơn 0,05) giữa sinh viên nam (điểm trung bình từ 4,35 đến 4,60) và nữ (4,31 đến 4,53), cũng như giữa nhóm sinh viên có điểm GPA dưới 7,0 và từ 7,0 trở lên. Điều này chứng minh chất lượng giảng dạy được cảm nhận đồng đều.

Nghiên cứu đóng góp gì cho công tác kiểm định chất lượng tại các trường y tế địa phương?

Luận văn đã hiện thực hóa các yêu cầu của Thông tư số 07/2017/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2009/TT-BGD&ĐT về kiểm định giáo dục. Mô hình nghiên cứu cung cấp bộ chỉ số định lượng cụ thể, giúp các cơ sở đào tạo y dược chuyển dịch từ quản lý cảm tính sang quản trị chất lượng dựa trên dữ liệu phản hồi thực chứng của người học.

Kết luận

  • Công trình khẳng định hoạt động giảng dạy của giảng viên Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương đạt mức chất lượng cao, với điểm số hài lòng trung bình của sinh viên Dược dao động từ 4,39 đến 4,55 điểm trên thang điểm 5.
  • Quan hệ giao tiếp và tác phong sư phạm là thế mạnh vượt trội nhất của nhà trường (4,55 điểm), trong khi chất lượng trang thiết bị máy chiếu và hạ tầng mạng là khâu then chốt cần ưu tiên cải tiến (4,09 điểm).
  • Nghiên cứu chứng minh sự vượt trội có ý nghĩa thống kê (p nhỏ hơn 0,05) của hình thức học trực tiếp so với trực tuyến ở ba phương diện: phương tiện, tác phong giảng viên và kiểm tra đánh giá.
  • Chuẩn hóa thành công bộ công cụ đo lường gồm 43 biến quan sát với hệ số tin cậy Cronbach's Alpha từ 0,778 đến 0,955, đóng góp công cụ khảo sát chuẩn mực cho hệ thống các trường cao đẳng y dược.
  • Mức độ hài lòng của người học có tính ổn định cao, hoàn toàn độc lập và không bị chi phối bởi các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, xếp loại học lực hay khóa đào tạo.

Về mặt học thuật và thực tiễn, luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực cho công tác quản trị đại học và kiểm định chất lượng y tế. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi nhà trường khẩn trương triển khai nâng cấp trang thiết bị trong 6 tháng tới, đồng thời chuẩn hóa bài giảng điện tử. Các cơ sở đào tạo y dược và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay bộ công cụ này để tối ưu hóa chương trình đào tạo của đơn vị mình.