đặt vấn đề về thang đo này, nhất là về tính tổng quát và hiệu lực đo lường chất lượng. Một điều nữa có thể thấy là thủ tục đo lường SERVQUAL khá dài dòng. Do vậy, đã xuất hiện một biến thể của SERVQUAL là SERVPERF. Thang đo này được Cronin & Taylor (1992) giới thiệu, xác định chất lượng dịch vụ bằng cách chỉ đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận (thay vì đo cả chất lượng cảm nhận lẫn kỳ vọng như SERVQUAL).
Hai ông cho rằng chất lượng dịch vụ được phản ánh tốt nhất bởi chất lượng cảm nhận mà không cần có chất lượng kỳ vọng. Lưu ý rằng do có xuất xứ từ thang đo SERVQUAL, các thành phần và biến quan sát của thang đo SERVPERF này giữ như SERVQUAL, cũng có 22 biến quan sát với năm thành phần cơ bản tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng, tuy nhiên bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng. 10 Sự tin cậy Sự đáp ứng Năng lực phục vụ Sự hài lòng của khách hàng Sự thông cảm Phương tiện hữu hình Hình 1. Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERF 1.
Mô hình chất lượng dịch vụ HEdPERF Chúng ta có thể thấy hai thang đo SERVQUAL và SERVPERF được phát triển để đo lường chất lượng dịch vụ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc đo lường chất lượng dịch vụ giáo dục có những điểm khác biệt do vậy Firdaus Abdullah (2005) đã đề xuất thang đo HEdPERF (Higher Education Performance), một thang đo mới và toàn diện hơn nhằm đo lường chất lượng dịch vụ trong giáo dục đại học. Thang đo HEdPERF gồm 41 tiêu chí, trong đó 13 tiêu chí được trích từ thang đo SERVPERF, 28 tiêu chí được phát triển thông qua tổng quan tài liệu và các nghiên cứu định tính (thảo luận nhóm, kiểm tra thử nghiệm và làm việc với chuyên gia). Thang đo HEdPERF-41 đã được Abdullah kiểm định độ tin cậy và độ giá trị, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA).
[18] Abdullah phân loại 5 thành phần của chất lượng dịch vụ trong giáo dục đại học đó là: (1) Nhân tố phi học thuật (Non-academic aspect): Các khía cạnh liên quan đến nhiệm vụ được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên phục vụ công tác đào tạo; (2) Nhân tố học thuật (Academic aspect): Thái độ tích cực, kỹ năng giao tiếp tốt, đủ tư vấn, thông tin phản hồi thường xuyên đến sinh viên và khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy; 11 (3) Nhân tố danh tiếng (Reputation): Các mục quan trọng đối với tổ chức học tập trong tạo dựng hình ảnh chuyên nghiệp; (4) Nhân tố tiếp cận (Access): Cách tiếp cận và phương pháp tiếp cận dễ dàng trong liên lạc của cả hai đội ngũ phục vụ công tác đào tạo; (5) Nhân tố chương trình đào tạo (Program issues): Chương trình có cấu trúc linh hoạt, dịch vụ tư vấn. Mô hình chất lượng dịch vụ HEdPERF 1. Mối liên quan giữa chất lượng đào tạo và sự hài lòng của người học Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua. Nhiều nhà kinh doanh dịch vụ cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có sự trùng khớp vì thế hai khái niệm này có thể thay thế cho nhau.
Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng trong các ngành dịch vụ cho thấy chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm phân biệt. Parasuraman và các cộng sự (1993) cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng tồn tại một số khác biệt, mà điểm khác biệt cơ bản là vấn đề “nhân quả” [49]. Zeithaml và Bitner (2000) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát, thể hiện mức độ thỏa mãn của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn chất lượng thì chỉ 12 tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân [56].
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ [50]. Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến kết quả là sự thỏa mãn của khách hàng. Sự hài lòng có tính dự báo và mong đợi trong khi chất lượng dịch vụ là một chuẩn lý tưởng [27], [44]. Tóm lại, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có mối quan hệ đồng biến với nhau.
Chất lượng dịch vụ chính là điều kiện tiên quyết để thỏa mãn khách hàng. Vì vậy, nâng cao chất lượng dịch vụ dựa trên nhu cầu của khách hàng luôn phải được coi là yếu tố quan tâm hàng đầu của các tổ chức, doanh nghiệp để thỏa mãn nhu cầu khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong giáo dục đại học, cao đẳng, chất lượng dịch vụ có tương quan chặt chẽ với sự hài lòng của sinh viên hay cựu sinh viên [53]. Chất lượng đào tạo có thể góp phần tạo động lực để sinh viên thiết lập mối quan hệ bền chặt với nhà trường.
Sự hài lòng của cựu sinh viên cũng được xác định là một trong những chỉ số đánh giá chất lượng đào tạo trong quản lý giáo dục hiện nay [55]. Chính vì vậy, đánh giá sự hài lòng của cựu sinh viên với chất lượng đào tạo là hoạt động cần được các cơ sở giáo dục thực hiện một cách định kỳ và thường xuyên để nâng cao chất lượng đào tạo và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Để đánh giá sự hài lòng của người học, nhà nghiên cứu phải xác định được các nhân tố thuộc về chất lượng đào tạo có ảnh hưởng đến sự hài lòng này [14], [15], [52]. Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới Hiện nay trên thế giới có 2 loại hình đào tạo về Dược dưới trình độ đại học (Pharmacist) là Pharmacy Technicians và Pharmacy assitant. Với mỗi loại hình đào tạo, vị trí công việc sau khi tốt nghiệp về cơ bản là giống nhau tuy chương trình đào tạo và thời gian đào tạo có sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia [15, 59]. 13 Một số quốc gia có đào tạo Pharmacy Technicians là: Anh, Mỹ, Canada, Đức, Colombia, Nigeria, Zimbabwe, Tanzania, Nigeria, Singapore, Malaysia,…[59] Tại Anh, một Pharmacy Technician phải hoàn thành chương trình đào tạo đã được công nhận với đào tạo nghề đến SVQ/NVQ cấp độ 3 về Dịch vụ Dược (sử dụng các cấp độ dựa trên khung hoạt động ở Anh, Wales và Bắc Ireland), cũng như chương trình kiến thức học thuật nền tảng như Dịch vụ Dược BTEC hoặc Chứng chỉ Quốc gia (NC- ). Họ cũng cần có thời gian làm việc với tư cách là Pharmacy Technicians thực tập trước khi có bằng cấp cuối cùng và cần phải đăng ký bắt buộc trước khi bắt đầu làm Pharmacy Technician.
Thời gian đào tạo tại chỗ thường được thực hiện đồng thời trong khi hoàn thành khóa học và thường trong khoảng 2 năm. Trong Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), các Pharmacy Technician làm việc dưới sự giám sát trực tiếp của Dược sĩ cấp cao hơn và làm việc chủ yếu ở hai lĩnh vực là nhà thuốc bệnh viện và nhà thuốc cộng đồng. Một số cũng làm việc trong các phòng khám của bác sĩ và trong các quỹ ủy thác chăm sóc chính. [59] Tại Mỹ, không có cơ quan quản lý nào được ủy quyền quản lý việc đào tạo Pharmacy Technician.
Mỗi tiểu bang có một Hội đồng Dược và quy định riêng về việc cấp giấy chứng nhận hành nghề cho Pharmacy Technicians trong tiểu bang đó. Các yêu cầu về giấy chứng nhận rất khác nhau tùy theo tiểu bang. Một số tiểu bang yêu cầu đào tạo từ các trường được hội đồng phê duyệt, chứng nhận của PTCB (Pharmacy Technician Certification Broad: Hội đồng chứng nhận hành nghề cho Phamacy Technicians), đào tạo tại chỗ hoặc không yêu cầu gì cả. Tuy nhiên vẫn có hai kỳ thi Quốc gia để cấp chứng nhận hành nghề cho Phamacy Technicians.
Năm 2020, PTCB đã ban hành kế hoạch yêu cầu ASHP ( American Society of Health- Systems Pharmacists: Hiệp hội Dược sĩ Hệ thống Y tế Hoa Kỳ) chứng nhận chương trình đào tạo Pharmacy Technician. Tại Mỹ, Pharmacy Technicians làm việc dưới sự giám sát của một dược sĩ (Pharmacist), trong các nhà thuốc bán lẻ tại cộng đồng, bệnh viện, các nhà sản xuất dược phẩm, hay các công ty bảo hiểm y tế, các cơ quan y tế của chính phủ hoặc trong các cơ sở đào tạo [59]. Tại Canada, hầu hết (62%) Pharmacy Technicians được đào tạo từ trường cao đẳng nghề hoặc cao đẳng cộng đồng, một số (16%) có trình độ trung học và 14 không được đào tạo chính quy về dược, trong khi có khoảng 20% có bằng đại học [34]. Một tỷ lệ rất nhỏ (2%) được đào tạo và làm việc ở nước ngoài với tư cách là dược sĩ (Pharmacists) hoặc Pharmacy Technicians.
Sự đa dạng về đào tạo kỹ thuật và trình độ học vấn phản ánh phần nào sự đa dạng của các chương trình đào tạo Pharmacy Technicians hiện có ở các tỉnh và vùng lãnh thổ khác nhau của Canada [34]. Tại một số nước Đông Nam Á như Malaysia hiện có 21 cơ sở đào tạo Pharmacy Assistant được Cơ quan Trình độ Malaysia (Malaysian Qualification Agency - MQA) công nhận. Yêu cầu đầu vào của các trường là phải vượt qua kỳ thi SPM (Sijil Pelajaran Malaysia) hoặc tương đương được Chính phủ Malaysia công nhận với tối thiểu ba môn học đạt mức điểm C trong đó có một môn khoa học (Sinh học/ Vật lý/Hóa học/ Khoa học đại cương) và 2 môn học khác hoặc đạt được một số điều kiện khác tùy yêu cầu của từng cơ sở đào tạo. Khóa học trong 3 năm (6 học kỳ) với 4 học kỳ đào tạo trong trường và 2 học kỳ cuối thực hành tại bệnh viện [60].
Tại Singapore, Đại học Republic Polytechnic và một số trường đại học cũng đào tạo Cao đẳng dược, một khóa học có thời gian 3 năm. Sinh viên sẽ được đào tạo chi tiết về nghiên cứu và phát triển thuốc, dược lâm sàng, xem xét thuốc, tư vấn cho bệnh nhân, bán và tiếp thị dược phẩm. Sinh viên có thể chọn chuyên ngành về Công nghiệp Dược, Kinh doanh Dược hoặc Thực hành Dược. Sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tham gia nghiên cứu lâm sàng, làm việc trong công ty dược phẩm, bệnh viện và nhà thuốc bán lẻ, tư vấn về sử dụng thuốc và hỗ trợ các hoạt động của nhà thuốc [57].