Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về Y học cổ truyền Định nghĩa về Y học cổ truyền: Theo định nghĩa của WHO: “YHCT hay còn được gọi là Y học dân tộc (Traditional medicine) là toàn bộ những kiến thức, kỹ năng, thực hành dựa trên những nền tảng lý luận, lòng tin và kinh nghiệm của mỗi khu vực, mỗi nền văn hóa khác nhau. Được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như phòng và chữa bệnh, cải thiện, điều trị những rối loạn thể chất, tinh thần” [34]. Complementary- Alternative medicine (CMA): Y học bo trợ và thay the là YHCT hay y học dân tộc được du nhập từ một bộ phận dân cư khác ở bên ngoài nền văn hóa bản xứ.
Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ YHCT ở một số quốc gia trên thể giới đặc biệt là tại các nước phát triển. Thuật ngữ “Y học cổ truyền” đề cập tới những cách bảo vệ và phục hồi sức khỏe ra đời, tồn tại trước khi có YHHĐ, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. YHCT còn là một phần của di sản văn hóa các dân tộc [23]. Hầu hết các hệ thống của mỗi nền YHCT trên thế giới đều gắn liền với đặc điểm văn hóa và lối sổng của dân tộc đó.
Mặc dù vậy trong nhiều hệ thống YHCT khác nhau vẫn có những đặc tính chung phổ biến, đó là: - Niềm tin và hệ thống lý luận cho rằng con người là một thể thống nhất của thể xác và tâm hồn, tinh thần và cảm xúc. Sức khỏe là sự cân bằng của nhiều mặt đối lập nhau trong cơ thể cũng như là sự cân bằng giữa cơ thể con người và môi trường sống. Bệnh tật xuất hiện nếu như mất đi sự cân bằng đó. - Cách tiếp cận trong chẩn đoán và điều trị của YHCT là một cách tiếp cận tổng thể, không đơn giản là chỉ xác định cơ quan nào của cơ thể bị rối loạn, tổn thương.
Cũng như khi đưa ra các phương pháp điều trị, các thầy thuốc YHCT thường kèm theo các lời khuyên về lối sống và hành vi sức khỏe. - Trong điều trị, YHCT dựa trên những nhu cầu khác nhau, sự khác biệt của từng người bệnh cụ thể. Mỗi người bệnh khác nhau sẽ nhận được cách điều trị khác nhau cho dù họ mắc cùng một chứng bệnh [35], WHO đã nhận định về lợi ích của YHCT: “Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn, rẻ tiền hơn để sử dụng nhiều hơn”. Y học cổ truyền ở một số nước trên thế giói Nhận rõ vai trò quan trọng và lợi ích của việc sử dụng YHCT trong CSSK, nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ra vấn đề kết hợp YHHĐ với YHCT trong CSSK ban đầu.
Không chỉ ở các nước châu Á và các nước đang phát triển mà ngay cả những nước phát triển YHCT cũng được sử dụng rộng rãi [36]. Trong tuyên ngôn Alma - Ata “Sức khỏe cho mọi người” năm 1978, WHO đã kêu gọi các quốc gia chấp nhận YHCT vào trong hệ thống CSSK và công nhận vị trí của thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Kểt quả là hơn 30 năm qua việc sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu tại tuyến y tế cơ sở đã tăng lên một cách đáng kể ở những nước đang phát triển cũng như việc sử dụng những thuốc bổ trợ và thay thế ở những nước phát triển trên thể giới. Bởi những lý do đó, ngay trong những năm đầu của thế kỷ 21, WHO đã vạch ra chiến lược về YHCT trong giai đoạn 2002 - 2005 để kết hợp YHCT vào trong hệ thống hệ thống y tể quốc gia [39].
Trong 3 năm nghiên cứu, WHO đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kểt hợp YHCT với YHHĐ trong CSSK cộng đồng với các mục tiêu: - Kết hợp YHCT với YHHĐ để phát triển và hoàn thiện các chương trình, chính sách y tế quốc gia. 6 - Đảm bảo sử dụng thuốc YHCT, thuốc thay thể và bổ trợ an toàn, hiệu quả và phù hợp. - Tổ chức nghiên cứu, đào tạo, thu thập những kinh nghiệm, sử dụng các biện pháp điều trị bằng YHCT, duy trì và bảo tồn nền YHCT của các quốc gia. Cải thiện các phương pháp điều trị bằng YHCT.
Làm cho YHCT được phổ cập, nhất là đối với những người nghèo [37]. Đây chính là những tác động tích cực từ phía những nhà quản lý, người cung cấp dịch vụ, còn đối tượng sử dụng là người dân đã dùng YHCT như là một phương pháp hiệu quả trong CSSK. YHCT đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại châu Phi có tới 80% dân số sử dụng YHCT trong CSSK.
Tại châu Á và Mỹ - La tinh số lượng người sử dụng YHCT ngày một tăng [42]. Tại Ethiopia tỷ lệ dân số sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu lên tới 90%, con số này tại Rwanda là 70%, Uganda là 60% [36]. Tại Nam Phi có tới 30 triệu người được điều trị bằng YHCT và có khoảng 200 000 thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Tỷ lệ nguời sử dụng các biện pháp chừa bệnh bằng YHCT tại Ghana là hơn 60%.
Đối với khu vực Mỹ - La tinh, theo báo cáo của WHO 71% dân số Chile sử dụng YHCT và 40% dân số Colombia đã sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh [37], Tại Ấn Độ tỷ lệ người dân sử dụng YHCT cũng rất cao là 70%. Ở Án Độ, có 2 hình thức YHCT được sử dụng, đó là chính thống và không chính thống. Hình thức YHCT chính thống của Ấn Độ được chính thức công nhận là Ayurveda, Yoga, Naturopathy, Unani, Sidda và Homeopathy gọi tắt là AYUSH. Tại Tanzania tỷ lệ sử dụng YHCT trong chữa bệnh là 60%.
Khu vực Tây Thái Bình Dương là khu vực mà YHCT rất phát triển. Tại Malaysia, YHCT Malay, YHCT Trung Quốc, và YHCT Ấn Độ đều được sử dụng. Một nghiên cứu tại Nauru năm 1997 đã cho thấy 60% người tham gia nghiên cứu và 71% bệnh nhân đang điều trị trong bệnh viện sử dụng YHCT [35]. 7 Theo báo cáo của Bộ Y tế Philippines có khoảng 250 000 thầy thuốc YHCT đang hoạt động tại nước này, họ đặc biệt có hiệu quả trong việc hướng dẫn người dân tại cộng đồng trong CSSK ban đầu [35].
Tại Singapore, có khoảng 12% bệnh nhân ngọai trú sử dụng YHCT. Một khảo sát của Bộ Y tế năm 1994 cho thấy 45% người dân Singapore sử dụng YHCT và 19% người dân Singapore đã sử dụng YHCT trong năm trước đó. Tại Bangladesh 70 - 75% dân số sử dụng YHCT, tiếp cận với YHCT trước tiên khi họ gặp vấn đề sức khỏe [35]. Tại Lào, trong nghiên cứu của K.Sydra và cộng sự điều tra 600 hộ gia đình về sử dụng YHCT.
Tỷ lệ người sử dụng YHCT là 77%, có rất ít khác biệt giữa thành thị và nông thôn, và không có sự khác biệt trong sử dụng YHCT giữa người dân sống ở vùng núi cao và đồng bằng. Các bệnh chủ yếu khi sử dụng YHCT là những chứng bệnh thông thường như cảm mạo, sốt, tiêu chảy, sốt rét và rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng YHCT tại tuyến y tế cơ sở lại rất thấp. Bộ Y tế Lào đã khuyến khích nhân dân sử dụng YHCT trong CSSK, trồng cây thuốc trong vườn nhà [33], Thái Lan là một quốc gia có nền YHCT lâu đời, tuy nhiên trước sự phát triển mạnh mẽ của YHHĐ, YHCT Thái Lan bị lãng quên trong suốt một thời gian dài.
Nhưng trước những giá trị và hiệu quả không thể phủ nhận của YHCT, Chính phủ Thái Lan cũng có những biện pháp để khuyến khích người dân sử dụng YHCT, tuyên truyền và giáo dục về vai trò của YHCT trong CSSK ban đầu [30]. Cuba là một nước thuộc nhóm đang phát triển, tuy nhiên những chỉ số sức khỏe của Cuba rất tốt, tỷ lệ sử dụng YHCT trong các cơ sở y tế rất cao, 86% các y bác sĩ Cuba sử dụng các phương pháp chữa bệnh bằng YHCT trong điều trị [29]. Trong khi đó tại các nước phát triển, tỷ lệ người dân đến với thuốc thay thế và bổ trợ ngày càng phổ biến. Theo thống kê của WHO tỷ lệ người dân có sử dụng thuốc YHCT và những thuổc bổ trợ thay thế khác tại úc là 48%, Canada là 70%.
Con số này ở Mỹ là 42%, Bỉ là 31% và Pháp là 49% [37]. 8 Một nghiên cứu khảo sát trên 600 bác sĩ Thụy Sỹ cho thấy 46% đã sử dụng một vài hình thức của YHCT, chủ yếu là châm cứu và vi lượng đồng căn, Yoga, tác động cột sống. Tại Anh khoảng 40% các bác sĩ đa khoa đã sử dụng một vài phương pháp chữa bệnh bằng YHCT và các thuốc bổ trợ thay thế khác. Châm cứu là một hình thức chữa bệnh không dùng thuốc của YHCT đã trở nên rất phổ biến.
Châm cứu bắt nguồn từ YHCT Trung Quốc nhưng ngày nay đã được sử dụng tại 78 quốc gia trên thế giới. Theo báo cáo của Hội Châm cứu thế giới, hiện nay có khoảng 50 000 các nhà châm cứu tại các nước châu Á. Tại châu Âu, có khoảng 15 000 nhà châm cứu. Tại Đức, 77% các trung tâm chống đau sử dụng châm cứu trong điều trị, tại Bỉ 74% các bác sĩ điều trị giảm đau sử dụng châm cứu như là một biện pháp rất hiệu quả [37].
YHCT không chỉ điều trị những chứng bệnh thông thường như cảm mạo, giảm đau, bổ dưỡng, mà còn có tác dụng điều trị nhiều bệnh lý phức tạp như sốt rét, điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân HIV/AIDS.Tại Ghana, Mali, Nigeria và Zambia hơn 60% trẻ em sốt cao được điều trị tại nhà bằng thuốc YHCT. Tỷ lệ những bệnh nhân có HIV/AIDS tại Mỹ sử dụng YHCT làm thuốc điều trị hỗ trợ lên tới 78% [37], Trong một nghiên cứu của Peltzer và cộng sự tại Nam Phi đối với bệnh nhân HIV/AIDS cho thấy YHCT đóng một vai trò quan trọng trong điều trị nhiễm trùng cơ hội, điều trị kết hợp với thuốc kháng virus và nâng cao sức khỏe đạt hiệu quả cao. YHCT cũng đóng một vai trò quan trọng trong phòng chổng, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS và các bệnh lấy truyền qua đường tình dục khác. Cũng trong một nghiên cứu khác của Peltzer và cộng sự tại Nam Phi cho thấy YHCT còn đóng vai trò quan trọng trong CSSK sinh sản, chăm sóc trước sinh, trong khi sinh và sau sinh, chăm sóc sơ sinh và kế hoạch hóa gia đình.