CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm, thuật ngữ 1. Y học cổ truyền − Định nghĩa về YHCT của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): YHCT có một lịch sử lâu dài.
Đó là tổng hợp các tri thức, kỹ năng và thực hành trên cơ sở những lý thuyết, đức tin và kinh nghiệm vốn có của những nền văn hoá khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng để duy trì sức khoẻ, cũng như để phòng bệnh, chẩn đoán, cải thiện hoặc điều trị tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh thần [37]. - Định nghĩa về y học bổ sung của WHO: Thuật ngữ “y học bổ sung” hay “y học thay thế” được dùng để chỉ một tập hợp rộng rãi những thực hành CSSK không phải làm thành phần của tập quán hoặc y học chính thống của quốc gia đó, và không được kết hợp hoàn toàn vào hệ thống y tế chính thống. Ở một số nước hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho thuật ngữ YHCT [37]. WHO còn có một khái niệm cụ thể hơn về YHCT đó là -phương pháp trị liệu thay thế/bổ sung (CAM): là một phức hợp, thường đề cập đến một hệ thống như hệ thống YDCT Trung Quốc, Ấn-độ hay Ả-rập, gồm các dạng rất khác nhau của y học bản địa.
Các liệu pháp YDCT bao gồm các liệu pháp điều trị bằng thuốc - nếu như có sử dụng các cỏ, cây, bộ phận của động vật hay khoáng chất làm thuốc chữa bệnh; các liệu pháp điều trị không dùng thuốc – nếu như thực hiện các thủ thuật như châm cứu, liệu pháp tinh thần/tâm lý hay liệu pháp qua tác động của tay. Tại các quốc gia mà có sự ưu thế của phép chữa đối chứng (tây y) hoặc YHCT chưa được lồng ghép vào hệ thống CSSK quốc gia thì YHCT được gọi là phương pháp trị liệu thay thế hay trị liệu bổ sung [5]. - Định nghĩa thực hành YHCT và bổ sung của WHO: gồm liệu pháp dùng thuốc và liệu pháp CSSK theo quy trình, như thuốc thảo dược, y học tự nhiên, châm cứu và các phương pháp điều trị bằng tay như phương pháp thần kinh cột Luan van 4 sống, trị liệu bằng xoa nắn cũng như các kỹ thuật khác liên quan, gồm khí công, thể dục dưỡng sinh, yoga, nhiệt trị liệu, và các liệu pháp điều trị thể chất, tâm thần, tinh thần và tinh thần – thể xác [37]. Hiện nay, WHO thống nhất tên gọi tiếng Anh của YHCT trên thế giới là Traditional medicine viết tắt là TM.
Đối với từng quốc gia thì tên thêm viết tắt chữ cái đầu tiên của quốc gia đó. Ví dụ: YHCT Trung Quốc viết tắt là TCM, theo đó, YHCT Việt Nam sẽ là TVM. Cây thuốc Nam, vị thuốc Nam Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ cây thuốc Nam là các cây trồng trên lãnh thổ của Việt nam được dùng làm thuốc đã được thừa nhận qua kinh nghiệm, thời gian và sự chấp nhận của cộng đồng. Ông lang, bà mế, lương y Ông lang, bà mế: Người biết sử dụng những phương pháp chữa bệnh, những mẹo chữa bệnh, phòng bệnh hay kinh nghiệm chữa bệnh dân gian của đồng bào các DTTS thì được gọi chung là ông lang, bà mế.
Lương y: là người có hiểu biết về lý luận y dược học cổ truyền, có kinh nghiệm khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp y dược học cổ truyền có dùng thuốc hoặc không dùng thuốc được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y trung ương hoặc Hội đông y cấp tỉnh [5]. Người được truyền nghề Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền là người sở hữu bài thuốc hoặc phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm lâu đời do dòng tộc, gia đình truyền lại, điều trị có hiệu quả đối với một hoặc vài bệnh, chứng nhất định được Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y cấp tỉnh [5]. Trong nghiên cứu này được hiểu là người được người khác truyền dạy về bài thuốc, phương thuốc, phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm lâu đời được truyền lại, điều trị có hiệu quả đối với một hoặc vài bệnh, chứng nhất định. Phụ nữ độ tuổi sinh đẻ Theo WHO, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được tính trong khoảng từ tuổi 15 đến tuổi 49 [38].
Các vấn đề liên quan đến sử dụng y học cổ truyền trong CSSK của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam 1. YHCT hiện nay đã được khẳng định vị thế trong hệ thống chăm sóc y tế Quốc gia Việt Nam có một nền YHCT lâu đời và được đánh giá là có tiềm năng to lớn. Cội nguồn của nền YHCT Việt Nam là những kinh nghiệm dân gian hình thành do kết quả đấu tranh sinh tồn giữa con người với những tác nhân gây bệnh, được lưu truyền và liên tục được bổ sung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, để ngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phần đáng kể trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Hệ thống cung cấp dịch vụ: Đến năm 2018, tổng số bệnh viện (BV) YHCT tuyến tỉnh là 58/63 trong đó có 58 BV YHCT tuyến tỉnh và 02 BV YHCT trực thuộc Bộ Y tế, 01 BV YHCT trực thuộc Học viện YDHCT VN, 02 BV YHCT ngành (Bộ Công An và Bộ Quốc phòng).
Hệ thống khoa và tổ YHCT trong BV đa khoa hoặc chuyên khoa tuyến tỉnh cũng tăng lên năm 2017 là 82. Hệ thống khoa và tổ YHCT trong BV đa khoa hoặc chuyên khoa tuyến huyện tăng đến năm 2017 đạt 93.31%, tỷ lệ giường bệnh cho YHCT so với giường bệnh chung tại tuyến huyện đạt 11. - Công tác YDCT tại Y tế cơ sở dần được củng cố tỷ lệ các Trạm y tế (TYT) xã có triển khai khám chữa bệnh (KCB) bằng YHCT 88,4%. Tỷ lệ các xã đã triển khai KCB YHCT được thanh toán BHYT đạt 70.18%; các TYT xã có vườn thuốc mẫu đạt 88.
Tỷ lệ YS YHCT, YS định hướng/YS chung tuyến huyện 17,48 %; Tỷ lệ lương y tham gia hoạt động tại TYT 34,10%; Tỷ lệ y sỹ YHCT, y sỹ định hướng công tác tại TYT là 47,3%. Luan van 6 Số lượng cơ sở chẩn trị YHCT 6524 cơ sở, Số lượng cơ sở kinh doanh thuốc thành phẩm YHCT 1358; Cơ sở bán buôn dược liệu, vị thuốc cổ truyền 1035 cơ sở. Định hướng chính sách liên quan về YHCT Việt Nam hiện nay Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban Bí thư “về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới” đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo; 3 mục tiêu và 9 nhiệm vụ giải pháp để phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội đông y Việt Nam trong tình hình mới, coi phát triển nền đông y Việt Nam là góp phần bảo tồn bản sắc, phát huy và phát triển một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần độc lập và tự cường của dân tộc Việt Nam [1]. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Và các văn bản Luật, Nghị định, thông tư quy định về lĩnh vực y và dược cổ truyền đã bộc lộ nhứng khó khăn, ví dụ như: Thực hiện theo Luật KCB đã bộc lộ nhiều vướng mắc khó khăn trong lĩnh vực YHCT, nhất là trong việc cấp chứng nhận hành nghề, giấy phép hoạt động, quy định về điều kiện và phạm vi hành nghề, liên quan đến chương trình đào tạo của đối tượng hành nghề; đối tượng là lương y nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh để hành nghề nhưng trước đó đã hành nghề KCB. Do vậy, thực tế đã có một đội ngũ đông đảo người hành nghề không được cấp chứng chỉ do không đáp ứng được điều kiện quy định tại Luật KCB như: nhóm được đào tạo bồi dưỡng lương y sau thời điểm Luật KCB có hiệu lực, nhóm đối tượng hành nghề theo kinh nghiệm dân gian, nhóm là ông lang bà mế chính vì thế nhóm này đến nay hoạt động như thế nào? từ đó, những tri thức đó dân bị mai một, không có cơ chế cho truyền nghề. Theo quy định chỉ co hoạt động đăng ký bài thuốc gia truyền. Tuy nhiên, việc thực hiện còn rất nhiều khó Luan van 7 khăn vướng mắc do những quy định về hành chính.
Phong tục, tập quán và các nghi lễ liên quan đến CSSK của một số DTTS ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng a) Trao truyền nghề thuốc Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Huệ, 100% số người dân ở cả 3 dân tộc Thái, Mường, Dao được hỏi đều đồng thuận rằng cần phải lưu truyền các cây thuốc, bài thuốc cho mọi người trong cộng đồng biết nhằm bảo tồn, phát huy các vốn cổ về YHCT để phục vụ cho việc CSSK cộng đồng. Nhiều nhất trong các ý kiến của người dân được hỏi ở cả 3 dân tộc là cách truyền miệng trong gia đình (Thái: 33,3%; Dao 20,1% và Mường 29,6%) và Dạy khi đi lấy thuốc trên rừng (Thái: 22,0%; Dao 17,0% và Mường 21,4%). Thực chất đây đều là những cách truyền nghề cổ xưa ở các dân tộc. Cách dạy theo kiểu “cầm tay chỉ việc” này hạn chế sự lan truyền kiến thức ra bên ngoài gia đình, “giữ kín” được những bài thuốc gia truyền nhưng dễ làm cho các bài thuốc, cây thuốc trở nên thất truyền, bởi nếu các thầy lang chẳng may chết đi sẽ mang theo bí mật về các cây thuốc, bài thuốc, v.
Đồng thời, không nhiều người dân đồng tình với việc ghi chép lại những bài thuốc, hoặc công bố trong hội YHCT địa phương, hoặc truyên truyền rộng rãi bài thuốc trong cộng đồng. Dường như người dân chưa tin rằng con người có bài thuốc gia truyền [9]. Theo nghiên cứu của Trần Hồng Hạnh: hầu hết người Dao đỏ đều biết sử dụng thuốc Nam. Kinh nghiệm sử dụng được truyền từ đời này sang đời khác không chỉ trong phạm vi gia đình mà còn cả trong cộng đồng.
Phương thức truyền nghề chủ yếu là truyền miệng và thông qua thực tế. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đồng bào cũng chỉ biết dùng thuốc để chữa những bệnh mà người thân trong gia đình họ mắc phải. Đồng bào không hỏi kinh nghiệm chữa bệnh mà họ không mắc vì sợ bị mắc chính bệnh đó. Những người phụ nữ đã từng mang thai, có kinh nghiệm trong sinh đẻ thường truyền kinh nghiệm cho người mới mang thai và sinh đẻ lần đầu.