Luận văn thạc sĩ y học t hực trạng nguồn lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người bệnh tại trạm y tế quận thủ đức năm 2020

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích y học t hực trạng nguồn lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người bệnh tại trạm y tế quận, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

97
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng nguồn lực y tế tại trạm y tế quận Thủ Đức

Năm 2020, nguồn lực y tế tại trạm y tế quận Thủ Đức được đánh giá dựa trên các yếu tố như nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị. Nguồn nhân lực y tế tại đây bao gồm bác sĩ, y tá, và các nhân viên y tế khác. Theo số liệu khảo sát, số lượng bác sĩ và y tá tại các trạm y tế còn thiếu hụt so với nhu cầu thực tế. Cụ thể, tỷ lệ bác sĩ trên 10.000 dân chưa đạt yêu cầu, điều này ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ y tế cho người dân. Cơ sở vật chất cũng cần được cải thiện, với nhiều trạm y tế chưa có đủ trang thiết bị cần thiết để thực hiện các dịch vụ y học cổ truyền (YHCT). Việc đầu tư vào cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.

1.1. Đặc điểm nguồn nhân lực y tế

Đặc điểm của nguồn nhân lực y tế tại trạm y tế quận Thủ Đức cho thấy sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng. Nhiều nhân viên y tế chưa được đào tạo chuyên sâu về YHCT, dẫn đến việc không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Theo khảo sát, chỉ có một phần nhỏ nhân viên y tế có kiến thức vững về các phương pháp điều trị bằng YHCT. Điều này cho thấy cần có các chương trình đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên y tế tại các trạm y tế. Việc nâng cao trình độ chuyên môn sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, từ đó tăng cường sự tin tưởng của người dân vào các dịch vụ y tế tại địa phương.

II. Nhu cầu sử dụng y học cổ truyền tại trạm y tế quận Thủ Đức

Nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người dân tại trạm y tế quận Thủ Đức năm 2020 cho thấy một xu hướng tích cực. Theo số liệu khảo sát, có một tỷ lệ lớn người dân mong muốn được khám và điều trị bằng YHCT. Điều này phản ánh sự tin tưởng của cộng đồng vào hiệu quả của YHCT trong việc điều trị các bệnh lý thông thường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ về các dịch vụ YHCT, dẫn đến việc chưa tận dụng hết tiềm năng của phương pháp này. Cần có các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của YHCT, từ đó khuyến khích họ sử dụng dịch vụ này nhiều hơn.

2.1. Đặc điểm nhu cầu khám chữa bệnh

Đặc điểm nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại trạm y tế quận Thủ Đức cho thấy sự đa dạng về độ tuổi và giới tính của người bệnh. Nhu cầu này không chỉ tập trung vào các bệnh lý thông thường mà còn mở rộng ra các vấn đề sức khỏe mãn tính. Theo khảo sát, nhiều người dân cho biết họ cảm thấy hài lòng với dịch vụ khám chữa bệnh bằng YHCT, điều này cho thấy sự chấp nhận và tin tưởng vào phương pháp điều trị này. Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, cần có sự cải thiện về chất lượng dịch vụ và tăng cường nguồn nhân lực có chuyên môn về YHCT.

III. Đánh giá chất lượng dịch vụ y học cổ truyền

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại trạm y tế quận Thủ Đức năm 2020 được đánh giá thông qua sự hài lòng của người bệnh. Nhiều người dân cho biết họ cảm thấy hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên y tế, tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến cho rằng chất lượng dịch vụ cần được cải thiện. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của nhân viên mà còn liên quan đến cơ sở vật chất và trang thiết bị. Cần có các biện pháp cụ thể để cải thiện chất lượng dịch vụ, từ đó nâng cao sự hài lòng của người dân.

3.1. Ý kiến của người dân về dịch vụ y học cổ truyền

Ý kiến của người dân về dịch vụ y học cổ truyền tại trạm y tế quận Thủ Đức cho thấy sự đa dạng trong cảm nhận và đánh giá. Nhiều người cho rằng dịch vụ YHCT mang lại hiệu quả cao trong việc điều trị các bệnh lý thông thường. Tuy nhiên, một số người vẫn còn e ngại về tính an toàn và hiệu quả của các phương pháp điều trị. Để giải quyết vấn đề này, cần có các chương trình giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức của người dân về YHCT, đồng thời cung cấp thông tin rõ ràng về các phương pháp điều trị và lợi ích của chúng.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ y học t hực trạng nguồn lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của người bệnh tại trạm y tế quận thủ đức năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có nền Y học cổ truyền (YHCT) rất lâu đời, nó xuất hiện đồng thời với thời kỳ đầu dựng nước, là hệ thống y dược duy nhất và có vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo về sức khỏe nhân dân trước khi nền Y học hiện đại (YHHĐ) xâm nhập vào Việt Nam [1]. Hiện nay cùng với sự phát triển của nền y học nói chung, nền YHCT cũng không ngừng phát triển, kết hợp, đổi mới phương pháp khám, điều trị đem lại hiệu quả rất cao trong thực tế lâm sàng và được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng, phát triển. Được tổ chức y tế thế giới (WHO) công nhận, đưa vào kế hoạch sử dụng và phát triển trên toàn cầu. Vì vậy tại đại hội về YHCT thế giới diễn ra tại Bắc Kinh- Trung Quốc vào tháng 11 năm 2008, tổ chức y tế thế giới đã tuyên bố: Trong 50 năm đầu thế kỷ 21, YHCT đóng vai trò to lớn và vô cùng quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các tuyến y tế cơ sở nhất là ở các nước đang phát triển vì tính rẻ tiền và hiệu quả của nó [2].

Trong kế hoạch hành động của chính phủ, để đẩy mạnh phát triển nền YHCT Việt Nam, tháng 11 năm 2010. Chính phủ đã ban hành quyết định 2166/QĐ – TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 11 năm 2010 về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu chung là: Hiện đại hóa và phát triển mạnh YHCT trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; củng cố và phát triển tổ chức, mạng lưới y học cổ truyền. Mục tiêu cụ thể là: Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý YHCT ở Trung ương và địa phương. Cơ sở khám chữa bệnh: Đến năm 2020, 100% viện có giường bệnh, bệnh viện đa khoa, chuyên khoa có khoa y học cổ truyền; 100% phòng khám đa khoa và trạm y tế xã phường, thị trấn có tổ y học cổ truyền do thầy thuốc y học cổ truyền của trạm y tế phụ trách.

Công tác khám, chữa bệnh bằng Y học cổ truyền: Đến năm 2020; Tuyến trung ương đạt 15%, tuyến tỉnh đạt 20%, tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã, phường đạt 40%. Đáp ứng nhu cầu thiết yếu về dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đảm bảo chất lượng cho cơ sở khám, chữa bệnh bằng YHCT. Đáp ứng cơ bản nhu cầu về nhân lực YHCT ở trình độ trung học vào năm 2015 và trình độ đại học vào năm 2020. Chuẩn hóa trình độ chuyên môn đội ngũ lương y, lương dược, tăng cường vai trò của Hội đông y Việt nam trong bồi dưỡng chuyên môn, kế thừa, bảo tồn và phát triển YHCT 2 Việt Nam.

Củng cố và phát triển khoa YHCT tại các bệnh viện, tổ YHCT tại phòng khám đa khoa và trạm y tế xã phường. khuyến khích đẩy mạnh công tác phát triển nguồn nhân lực: Xây dựng đề án nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực YHCT đối với y sĩ, điều dưỡng, bác sĩ, dược sĩ, bác sĩ nội trú, chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành YHCT và các cấp đào tạo cho đội ngũ lương y, lương dược theo hướng phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên, đầu tư mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị giảng dạy, cơ sở thực hành, cho các cơ sở đào tạo cán bộ YHCT đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực YHCT [3]. Xây dựng đề án phát triển dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phù hợp với quy định hiện hành. Xây dụng và phát triển vườn cây thuốc tại các bệnh viện YHCT, khoa YHCT tại các bệnh viện, các cơ sở đào tạo YHCT và trạm y tế xã, phường, thị trấn [4].

Ngành y tế trong cả nước đã thực hiện tốt kế hoạch hành động của Chính phủ, góp phần xây dụng nền YHCT Việt Nam ngày càng vũng mạnh được WHO đánh giá cao. Cùng với cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị rất chú trọng và đẩy mạnh sự phát triển của YHCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, cụ thể là lồng ghép hoạt động YHCT, phục hồi chức năng vào công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) tại tuyến y tế cơ sở. Tại Quận Thủ đức hoạt động YHCT rất phát triển, không những đã lồng ghép YHCT vào công tác CSSKBĐ mà còn tổ chức liên kết, chuyển giao công nghệ, tập huấn chuyên môn từ bệnh viện Quận đến các trạm y tế (TYT) phường, do vậy dịch vụ khám, chữa bệnh bằng YHCT tại các TYT phường trong quận Thủ Đức đạt tỷ lệ rất cao [30,31,32]. Song câu hỏi đặt ra là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị về YHCT tại TYT phường như thế nào? Nhu cầu sử dụng dịch vụ YHCT của người dân tại TYT ra sao? Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh bằng YHCT đến đâu? Từ những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng nguồn lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền của ngƣời bệnh tại trạm y tế Quận Thủ Đức năm 2020” với mục tiêu sau: 1.

Đánh giá nguồn lực Y học cổ truyền và cơ sở vật chất tại các trạm y tế phường Quận Thủ Đức năm 2020. Đánh giá nhu cầu sử dụng Y học cổ truyền của người bệnh đến khám và điều trị tại trạm y tế phường Quận Thủ Đức năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC Y TẾ 1.

Định nghĩa nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động [5]. Nguồn nhân lực y tế (Health human resources: HHR) – còn được gọi là nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe (Human resources for health: HRH) hoặc lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe (Health workforce) là “tất cả những người tham gia vào các hành động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe” Theo báo cáo sức thế giới của WHO năm 2006 khẳng định: Nguồn nhân lực y tế được xác định là một trong những trụ cột chính của một hệ thống y tế, bao gồm các Bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, nữ hộ sinh, nha sĩ, dược sĩ, những người làm việc khác trong ngành y tế, nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên y tế xã hội và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác, cũng như nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe – những người không cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp, nhưng rất cần thiết để hệ thống y tế hoạt động hiệu quả, bao gồm cả quản lý dịch vụ y tế, kỹ thuật viên hồ sơ y tế và thông tin sức khỏe, nhà kinh tế học về sức khỏe, quản lý chuỗi cung ứng sức khỏe, thư ký y khoa và những người khác [6, 7]. Căn cứ định nghĩa nhân lực y tế (NLYT) của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, Nhân viên y tế (NVYT) thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (NLYT tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y, lương dược và bà đỡ/mụ vườn)[6]. Nguồn nhân lực YHCT cũng nằm trong tổng thể nguồn nhân lực y tế chung của đất nước.

Đặc điểm của nguồn nhân lực y tế - Nguồn nhân lực y tế bị chi phối bởi tính chất đặc thù của nghề y. 5 - Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực y tế cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ và có kế hoạch. - Nguồn nhân lực y tế cần có sự can thiệp đặc biệt của Chính phủ [6]. Vai trò của nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế (NNLYT) là nguồn lực quan trọng nhất của hệ thống y tế, có mối liên hệ rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế.

Là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế, có vai trò ảnh hưởng quyết định tới việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân của mỗi quốc gia. NNLYT là một nhân tố quan trọng bảo đảm nguồn nhân lực của mỗi nước thông qua việc cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân [6]. Kế hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế Phát triển nguồn nhân lực là tổng hợp các biện pháp, phương pháp, hình thức và chính sách nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực về số lượng, chất lượng và cơ cấu tổ chức nguồn nhân lực, được biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước [8]. Ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực y tế Phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu của con người, khoa học kỹ tuật và xã hội.

Phát triển nguồn nhân lực là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương hay một quốc gia [8]. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế hay nhân lực doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các mặt: Thể lực, Trí lực và Tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung [9]. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Theo Bộ Y tế tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Thể lực, trí lực và tâm lực [9] 6 - Thể lực: Tỷ lệ nguồn nhân lực theo độ tuổi (%), Tỷ lệ nguồn nhân lực theo giới tính (%), Tỷ lệ nguồn nhân lực theo Loại Sức khỏe (%) - Trí lực: Tỷ lệ nguồn nhân lực theo trình độ học vấn, chuyên môn (%), kỹ năng: khả năng chẩn đoán các bệnh khó, thao tác thành thục, tham gia mổ.

Tỷ lệ (Bác sỹ /Dược sỹ /Y sỹ/ Điều dưỡng / Kỹ thuật Y/) (%) - Số lượng nguồn nhân lực tham gia sáng kiến, nghiên cứu khoa học: + Thâm niên: Tỷ lệ nguồn nhân lực có thâm niên trong ngành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Thực trạng nguồn lực và nhu cầu sử dụng y học cổ truyền tại trạm y tế quận Thủ Đức năm 2020" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại của nguồn lực y học cổ truyền và nhu cầu sử dụng dịch vụ này tại một trong những trạm y tế địa phương. Nghiên cứu chỉ ra rằng y học cổ truyền vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh người dân ngày càng quan tâm đến các phương pháp điều trị tự nhiên. Tài liệu không chỉ nêu rõ những thách thức mà các trạm y tế đang gặp phải trong việc cung cấp dịch vụ y học cổ truyền, mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về y học cổ truyền, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ thực trạng sử dụng thuốc y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ độ tuổi sinh đẻ của người Mường và người Dao tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2020. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe cho một nhóm đối tượng cụ thể, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của y học cổ truyền trong cộng đồng.