Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây cung cấp lương thực vô cùng phổ biến và giữ vai trò quan trọng trên thế giới. Lúa gạo là lương thực chính trong các nước đang phát triển, lúa gạo là nguồn cung cấp lương thực chính cho 40 % người dân trên thế giới, lúa gạo còn cung cấp sản lượng gạo cho hơn 65% dân số trên thế giới. Khi dân số tăng nhanh, tỉ lệ ở các nước đang phát triển cao hơn các nước phát triển, tỉ lệ của gạo để đáp ứng nhu cầu lương thực trong tương lai ở các nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng. Ở Việt Nam, dân số trên 90 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính.
Vì vậy, cây lúa có vai trò quan trọng đối với đời sống nhân dân ta. Không chỉ vậy, sản phẩm lúa gạo còn là mặt hàng lương thực được ngành nông nghiệp nước ta đưa vào sản xuất theo quy mô hàng hóa để chế biến và xuất khẩu sang thị trường quốc tế. Hiện nay, ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới tình hình sản xuất lúa gạo đang đương đầu với những vấn đề lớn như sự gia tăng dân số, quỹ đất bị giới hạn, có nhiều ruộng lúa đang dần bị sử dụng để xây dựng các khu công nghiệp, nhà máy, khu dân cư, khu du lịch… Bên cạnh đó tình hình thiên tai, dịch hại làm ảnh hưởng đến quá trình canh tác lúa làm cho năng suất, sản lượng lúa giảm có khi dẫn đến mất mùa. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 7 năm 2020, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,9 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,9 tỉ USD, giảm 1,4% về khối lượng nhưng tăng 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.
Với mức giá cạnh tranh và xuất khẩu đang tăng mạnh trở lại sau khi gỡ bỏ hạn ngạch liên quan tới vấn đề an ninh lương thực trong tình hình dịch COVID-19, Việt Nam có cơ hội lớn để trở thành nhà xuất khẩu gạo toàn cầu ngay trong năm nay, vượt Ấn Độ và Thái Lan. Với sự phát triển của ngành nông nghiệp là sự thay đổi của môi trường và biến đổi khí hậu, ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới tình hình sản xuất lúa gạo đang đương đầu với những vấn đề lớn như sự gia tăng dân 1 số, quỹ đất bị giới hạn, có nhiều ruộng lúa đang dần bị sử dụng để xây dựng các khu công nghiệp, nhà máy, khu dân cư, khu du lịch… Bên cạnh đó tình hình thiên tai, dịch hại làm ảnh hưởng đến quá trình canh tác lúa làm cho năng suất, sản lượng lúa giảm có khi dẫn đến mất mùa. Vì vậy, muốn gia tăng sản lượng không còn con đường nào khác ngoài việc tăng năng suất, trong đó giống là một yếu tố hết sức quan trọng và có tính quyết định. Trong những năm gần đây, nhu cầu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hệ thống canh tác trên đất lúa có những bước chuyển dịch lớn theo xu hướng sử dụng các giống lúa ngắn ngày, thâm canh cao.
Để có hướng đến mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực của toàn vùng, nâng cao sự phát triển nền nông nghiệp trồng lúa, sử dụng đất lúa một cách có hiệu quả và tiết kiệm, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu việc chọn tạo ra các giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn có khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện bất thuận là việc làm cần thiết và quan trọng đối với các chuyên gia chọn tạo giống. Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa thuần ở vụ Xuân có ý nghĩa thực tiễn và có thể tham khảo cho sản xuất lúa. Xuất phát từ vấn đề thực tế trên, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trưởng phát triển một số dòng lúa thuần vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học, mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống lúa thuần. - Đánh giá năng suất của một số dòng, giống lúa thuần có triển vọng để khảo nghiệm và phát triển sản xuất. Yêu cầu - Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành năng suất của một số dòng, giống lúa thương mại phổ biến. - Đánh giá mức độ sâu bệnh hại của các dòng, giống thuần mới.
- Tuyển chọn một số giống lúa tốt trong vụ Xuân 2021 tại Gia Lâm – Hà Nội. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Vai trò của lúa gạo Lúa trồng (Oryza Sativa L.) là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới, là cây lương thực quan trọng được trồng chủ yếu ở Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Có thể thấy trên khắp thế giới ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo.
Các nước nghèo thường dùng gạo là lương thực chính, khi thu nhập tăng lên mức tiêu thụ gạo có xu hướng giảm xuống, thay thế bằng các loại thức ăn cung cấp nhiều protein và vitamin hơn là năng lượng. Giá trị dinh dưỡng trong gạo có chứa 63,0% tinh bột; 7,0% protein; 2,3% dầu; 12,0% xenluloze; 3,6% đường tan, 2,0% gluxit và một số Vitamin như: Vitamin nhóm B (chủ yếu là B1), Vitamin PP, Vitamin E. ngoài ra, còn có nhiều chất khoáng. Protein trong lúa gạo có giá trị dinh dưỡng cao và có sự cân bằng giữa các axit amin không thay thế.
Lúa gạo cung cấp lượng calo nhiều nhất trong các loại cây ngũ cốc. Những chỉ tiêu chính được dùng để đánh giá trị dinh dưỡng của lúa gạo là: hàm lượng protein, amylose và chất khoáng; trong đó chỉ tiêu là: hàm lượng protein và amylose được quan tâm hàng đầu. Amylose của tinh bột có liên quan mật thiết đến đặc tính của cơm như: độ nở, độ cứng, độ bóng, độ mềm và độ dẻo dính. Gạo không chỉ là ngũ cốc quan trọng như một loại lương thực lớn trên toàn thế giới mà còn là nguồn các chất dinh dưỡng có giá trị của cho sức khỏe con người.
Protein là một trong những yếu tố chính quyết định việc ăn uống, chế biến và chất lượng dinh dưỡng của gạo. Hàm lượng protein trong gạo nếp cao hơn so với gạo tẻ, hàm lượng protein trong gạo nếp dao động 8,6-9,7 % trong gạo xay và 8,1-8,5 % trong gạo xát. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có hơn 50% thu nhập quốc dân là do nông nghiệp tạo ra. Trong đó, cây lúa là cây trồng quan trọng và có vai trò chiến lược trong nền kinh tế nước ta.
Cây lúa không chỉ giải quyết vấn đề lương thực 3 hàng ngày cho nhân dân mà còn là nguồn xuất khẩu quan trọng thu nhập ngoại tệ, là nền tảng để xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp. Lúa là cây lương thực có diện tích gieo trồng lớn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết: Diện tích trồng lúa của cả nước năm 2019 ước tính đạt 7,47 triệu ha, giảm 100 nghìn ha so với năm 2018, năng suất lúa ước tính đạt 58,2 tạ/ha, tương đương với năng suất của năm 2018, sản lượng lúa năm 2019 ước tính đạt 43,45 triệu tấn, so với năm 2018 giảm 596 nghìn tấn. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt nam.
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới. Lúa gạo là một loại lương thực quan trọng đối với thế giới. Hiện nay do mức sống ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước đối với gạo chất lượng ngày càng tăng, tạo ra thị trường rộng mở cho các nước xuất khẩu gạo. Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm 11% đất gieo trồng của thế giới) (Khush and Comparator, 1994).
Trong vài ba thập kỉ gần đây, tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đã có mức tăng trưởng đáng kể, theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO năm 2017 diện tích trồng lúa trên thế giới đã đạt được 167,249 triệu ha, năng suất 4,63 tạ/ha, cho sản lượng rất lớn 769,657 triệu tấn tập trung chủ yếu ở Châu Á. Vì vậy, sản xuất lúa gạo trong vùng phải tăng lên gấp bội để đáp ứng nhu cầu lương thực. Điều quan trọng là để đảm bảo an ninh lương thực và nhu cầu tiêu dùng của người dân thì phải tăng cường sản xuất lúa gạo, nâng cao năng suất và chất lượng. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm Sản lượng Năm Diện tích(ha) Năng suất(tạ/ha) (triệu tấn) 2010 161,697 43,3 701,138 2011 162,752 44,6 726,376 2012 162,645 45,2 736,596 2013 165,216 45,2 742,504 2014 164,141 45,2 742,438 2015 162,376 45,9 745,337 2016 165,219 45,7 756,158 2017 167,249 46,3 769,657 2018 167,132 46,7 782,000 (Nguồn: FAOSTAT 2021) Diện tích, năng suất và sản lượng của cây lúa không ngừng được cải thiện theo thời gian.
Về diện tích: Diện tích trồng lúa trên thế giới năm 2010 đến năm 2018 tương đối ổn định từ 161,697 - 167,132 triệu/ha. tăng khoảng 5,44 triệu ha và tăng không quá đáng kể. Về sản lượng: Sản lượng lúa trên thế giới đều tăng dần qua các năm, tuy nhiên mức tăng không đáng kể. Về năng suất: Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chọn tạo giống cây trồng đã giúp cho sản lượng lúa nói chung và của Châu Á nói riêng có sự bứt phá mạnh mẽ, các giống mới được đưa vào, người dân đã sử dụng các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao để áp dụng vào sản xuất.
Các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ngày càng được sử dụng phổ biến. Kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể. 5 Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO (2015), cây lúa chiếm một vị trí quan trọng trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á (chiếm khoảng 90% diện tích gieo trồng). Hiện nay có 114 nước trên thế giới trồng lúa, những nước sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới đều tập chung ở Châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines… và Nhật Bản sản xuất khoảng 90 % sản lượng lúa gạo của Châu Á.
Với việc tăng nhanh về diện tích thì năng suất lúa cũng không ngừng tăng nhanh nhờ việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chọn giống và thâm canh.