ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm trên thế giới và ở nước ta phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi. Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam luôn đóng góp một phần không nhỏ vào cơ cấu tổng sản phẩm của nền nông nghiệp Việt Nam. Theo FAO (tháng 6/2016) dự đoán: thập niên 2015-2025 là thập niên sản xuất thịt của gia cầm. Để đáp ứng được nhu cầu cũng như thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng việc nâng cao năng suất, chất lượng hiện đang được các nhà làm giống vô cùng quan tâm.
Lai tạo là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm. Khi tiến hành lai các giống gà nội với các giống gà nhập nội đã thu được những con lai mang nhiều đặc tính tốt thỏa mãn được nhu cầu của con người. Gà Sasso là dòng gà thịt của Pháp, lớn nhanh, thịt rắn chắc, thơm ngon, vị đậm đà, có khả năng kháng bệnh tốt, chịu được nóng và độ ẩm cao. Gà Lương Phượng (hay Hoa Lương Phượng) đây là giống gà thịt cho năng suất cao, sức đề kháng caođã được các nhà tạo giống gà tại Quảng Tây, Trung Quốc nghiên cứu trong thời gian dài.
Để tận dụng các ưu điểm của 2 giống gà trên công ty cổ phần giống gà Hòa Bình đã tiến hành lai tạo đểcó được tổ hợp gà lai GF268 (Lương phượng x Sasso).Giống gà GF268 có lông màu nâu vàng bóng mượt xen kẽ có nhiều sọc đen ở vùng cổ, búp lông đuôi có màu xanh đen. Gà có mào, tích, tai đều màu đỏ, thân hình rắn chắc, da gà có màu vàng, thịt thơm ngon, thích ứng tốt các mùa trong năm. 4 Việc đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà GF268 (Lương Phượng x Sasso) nuôi tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong quy trình sản xuất giúp người chăn nuôi có thêm cơ sở để lựa chọn các giống gà trên thị trường. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà GF268 nuôi ở chuồng 3 tại trại trang trại Linkfarm ở Lê Ninh, Kinh Môn, Hải Dương”.
MỤC ĐÍCH - YÊUCẦU 1. Mục đích Đánh giá được khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà GF268 (Lương Phượng x Sasso) nuôi tại trang trại nghiên cứu. Yêu cầu - Số liệu chính xác, khách quan, trung thực đáp ứng các nội dung nghiên cứu - Nắm được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, vệ sinh phòng bệnh cho đàn gà tại trang trại 5 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm ngoại hình của gà Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến sức khỏe, cấu tạo, chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm và là hình dáng đặc trưng của một số giống gia súc, gia cầm.
Ngoại hình bên ngoài bao gồm: lông, da, mào, mỏ, chân. Lông thường màu đỏ, vàng hoặc đen, có lông cổ hoặc trụi cổ, chủ yếu da và chân có màu vàng (ở một số ít có da và chân màu xám hoặc trắng). Đặc điểm lông, da - Lông: Là sản phẩm của da, bao phủ toàn bộ cơ thể gia cầm. Lông gồm hai phần chính là gốc lông (phần nằm ở trong da) và trục lông (phần nằm ở bên ngoài).
Trục lông gồm thân lông và phiến lông. Người ta phân biệt các loại lông theocấu trúc và chức năng của chúng, bộ lông gia cầm được chia làm 5 loại đó là: lông ống, lông bông, lông chỉ, lông chổi và lông tơ. Lông của các loài vàgiống gia cầm khác nhau thì khác nhau, chúng tạo nên đặc trưng về hình dạng bên ngoài của gia cầm. + Lông ống: Thân lông cứng, phiến lông dày xít.
Gồm ba loại: Lông ống thân, lông ống cánh và lông ống đuôi. + Lông bông: Có trục ngắn, phiến lông mềm, nằm dưới lông ống, nhẹ, xốp, cùng với lông ống giúp gia cầm không bị lạnh. + Lông chỉ: Thân nhỏ và dài, nằm rải rác toàn thân, thường mọc thành từng đám nhỏ (2-10 chiếc) xung quanh lông ống ở đầu, cổ, ngực. + Lông hình bút sơn: Thân lông mọc tương đối dài, phiến lông ngắn, thường mọc xung quanh các ống dẫn chất tiết của phao câu.
6 Lông gia cầm thực hiện các chức năng khác nhau như: Bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng xấu của điều kiện môi trường, điều hòa nhiệt và chức năngxúc giác. Một số lông chuyên dùng để bay, một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp của gia cầm. Bộ lông của gia cầm phân bố không đều trên bề mặt cơ thể gia cầm non cũng như trưởng thành và chiếm tỷ lệ 4 – 9% khối lượng cơ thể, chứa 82% là protein. Da: Da của gia cầm bao phủ toàn thân và có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc trao đổi nhiệt giữa cơ thể và môi trường, nhất là ở gia cầm non.
Da của gia cầm có một đặc điểm nổi bật trong cấu trúc là trên toàn bộ bề mặt da không có tuyến mồ hôi và tuyến nhờn mà chỉ có tuyến phao câu (Nguyễn Thị Mai, 2006). Màu vàng của da và chân gia cầm được quyết định bởi hàm lượng sắc tố xantofin, xantofin nằm trong lớp mỡ dưới da, các sắc tố này còn có tác dụng làm đậm màu của thịt, chúng chỉ được cung cấp từ thức ăn có xantofin như ngô vàng, bột thức ăn xanh, dầu gấc… Ngoài ra giống, dòng gia cầm cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu này. Màu sắc lông, da Màu sắc lông, da là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc lông, da là những chỉ tiêu dùng trong chọn lọc gia cầm (Đặng Hữu Lanh và cs, 1995).
Thông thường các giống thuần màu lông thường đồng nhất, trên cơ sở đó có thể nói các gia cầm có màu lông không đồng nhất là do giống đã bị pha tạp. Màu sắc do một số gen kiểm soát nên có thể sử dụng phân tích di truyền để dự đoán màu sắc của đời sau trong chọn lọc. Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai loại sắc tố chính là xantofin và melanin. Xantofin là sắc tố màu vàng được lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da, những cá thể có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen trội của nó (W) hạn chế 7 sự tích lũy cơ – xantofin trong máu và mỡ.
Melanin có ở da và gốc lông, xuấ thiện không phụ thuộc vào lứa tuổi. Màu sắc lông gia cầm gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom. Tiền sắc tố melanin là melanogen, sự oxy hóa melanogen ở các mức khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt, hung gỉ sắt, hung nâu, nâu, đen. Màu sắc lông rực rỡ của một số giống gia cầm được tạo bởi sắc tố khác - lipocrom.
Chúng làm cho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời, xanh lá cây; mỗi cá thể có thể có một hoặc nhiều màu. Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là gia cầm bạch tạng, thường thấy ở các giống gia cầm siêu thịt, do kết quả chọn lọc định hướng của các nhà tạo giống để tạo ra sản phẩm gà broiler có da sạch phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Mào Mào là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp, có thể dùng để phân biệt trống, mái. Mào gồm lớp biểu bì và biểu mô dưới da, ở giữa chúng có nhiều mạch máu (quyết đinh sắc tố của mào), màng keo, tế bào mỡ và các đầu mút dây thần kinh.
Tùy theo hình dạng của mào mà có các tên gọi khác nhau như mào đơn (mào cờ, mào lá), mào hoa hồng, mào quả dâu và mào hạt đậu, mào nụ. Theo màu sắc, trạng thái và sự phát triển của mào, người ta có thể đoán được sức khỏe, sự phát dục và khả năng sinh sản của gia cầm (Nguyễn Thị Mai – 2006). Mỏ Mỏ là sừng chắc do biểu bì dày lên. Mỏ là một chỉ tiêu quan trọng trong chọn lọc giống.
Màu sắc của mỏ thường phù hợp với màu sắc của da chân và là một đặc điểm của giống (Nguyễn Thị Mai – 2006). Mỏ phải chắc và ngắn, mỏ trên và mỏ dưới phải phù hợp với nhau. Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao. 8 Chân Chân gia cầm hầu hết là có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (gà ác).
Cổ, bàn và móng chân thường có vảy sừng bao kín, có tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có móng và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Vảy chân của gia cầm có nhiều hàng vẩy khác nhau được xếp theo hình chữ nhân, mái ngói, xếp thẳng hàng,.
Chân gà phải chắc và không được thô, 2 bên to hơn có vảy bóng che phủ. Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong thì không được chọn làm giống. Những đặc điểm ngoại hình này giúp chúng ta nhận biết được giống, loài, tình trạng sinh lý, sinh trưởng, sức khoẻ từ đó có các đánh giá chính xác nhất về khả năng sản suất thịt, trứng của gia cầm. Đặc điểm sinh trưởng của gia cầm Sinh trưởng là quá trình gia tăng khối lượng và kích thước của cơ thể do tăng số lượng và kích thước tế bào.
Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, bắt đầu từ lúc thụ tinh đến khi trưởng thành. Theo Trần Đình Miên & cs. (1992): “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”. Đối với gia cầm, ở giai đoạn phát triển của phôi thì sinh trưởng là sự biến đổi, tổng hợp của sự tăng lên về số lượng, kích thước của tế bào và dịch thể trong mô bào.
Trong giai đoạn sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn lên của các mô. Trước tiên là sự phân chia tế bào, tăng lên về số lượng, thể tích và tăng các chất ở mô tế bào để dần hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể. Nên giai đoạn này thức ăn và dinh dưỡng là rất quan trọng. Giai đoạn sau đó, phát dục diễn ra mạnh mẽ, số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là tích lũy mỡ, tốc độ phát triển chậm hơn thời kỳ đầu.
Do đó giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ để đạt hiệu quả kinh tế cao.