CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIA CẦM 1. KHÁI QUÁT VỀ CHĂN NUÔI GIA CẦM VÀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIA CẦM 1. Khái niệm, đặc điểm của chăn nuôi gia cầm Gia cầm là tên gọi chỉ chung cho các loài động vật có hai chân, có lông vũ, thuộc nhóm động vật có cánh được con người nuôi giữ, nhân giống nhằm mục đích sản xuất trứng, lấy thịt hay lông vũ. Những loài gia cầm điển hình gồm gà, vịt, ngan, ngỗng.
Các loài gia cầm có khả năng bơi, ưa thích sống trong môi trường nước thường được gọi là thủy cầm. Gia cầm cũng bao gồm các loài chim khác bị giết để lấy thịt, chẳng hạn như chim bồ câu, chim cút hoặc dùng làm vật cảnh, giải trí như gà lôi hay gà chọi.[19,tr 01] Chăn nuôi gia cầm là việc thực hành chăn nuôi chủ yếu các loại gà; ngan; ngỗng; chim cút; bồ câu với mục đích nuôi để lấy thịt lấy trứng cung cấp thực phẩm hoặc các sản phẩm khác. Ngoài ra chăn nuôi gà là nguồn làm cây cảnh, trò chơi chọi gà. Hay chăn nuôi gia cầm là tập hợp tất cả các hiểu biết kiến thức của nhân loại về gia cầm và các giải pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm ở gia cầm, hình thành nên một ngành khoa học.
Ngành chăn nuôi gia cầm và khoa học về chăn nuôi gia cầm hiện nay phát triển ở mức độ cao. Chăn nuôi gia cầm công nghiệp với đặc trưng là quy mô lớn, sản phẩm tiêu chuẩn hóa, sản phẩm mang tính hàng hóa, sản xuất theo quy trình công nghệ cao, tạo ra chuỗi giá trị nhằm đáp ứng được nhu cầu thị trường. Khái niệm phát triển chăn nuôi gia cầm a. Khái niệm phát triển kinh tế Theo Kinh tế học phát triển thì phát triển nói chung là sự vận động đi lên 13 theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về kinh tế và xã hội.
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề gia tăng quy mô sản lượng của nền kinh tế, thường được phản ánh bằng gia tăng của GDP thực tế, đồng thời duy trì ổn định cùng với việc gia tăng không ngừng mức sống cho người dân. Theo cách hiểu như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định. Khái niệm phát triển chăn nuôi gia cầm Theo khái niệm phát triển kinh tế thì phát triển chăn nuôi gia cầm là phát triển một ngành sản xuất vật chất không những có sự gia tăng qui mô về đầu ra, đa dạng hơn về chủng loại và phù hợp hơn về cơ cấu, mà còn thoả mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về sản phẩm gia cầm đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi, tăng thu nhập cho người lao động và địa phương nhưng không gây tổn hại đến môi trường.3] Phát triển chăn nuôi gia cầm là đa dạng các đối tượng chăn nuôi như: gà, vịt, chim cút, chim đà điểu, bồ câu, ngan, ngỗng… nhiều giống mới được hình thành, sản xuất trứng và thịt gia cầm ngày càng tăng thêm cả quy mô đàn và chất lượng thương phẩm mà không gây tổn hại đến môi trường. Phát triển chăn nuôi gà thả vườn, gà có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đồng thời coi trọng phát triển chăn nuôi gà công nghiệp chuyên dụng thịt, trứng cung ứng cho thị trường trong nước phát triển ngành sản xuất thực phẩm.Lưu ý, phát triển vùng chăn nuôi gà ở vùng trung du, đồng bằng và ven biển.
Phát triển chăn nuôi vịt, ngan, ngỗng tập trung ở vùng đồng bằng các tỉnh duyên hải những nơi có diện tích mặt nước đủ lớn, để thuận lợi cho đối tượng nuôi được phát triển, tăng trưởng nhanh, năng suất cao, chất lượng tốt để cung cấp thịt trứng lông cho thị trường trong và ngoài nước. Vai trò của phát triển chăn nuôi gia cầm Phát triển chăn nuôi gia cầm là tạo ra nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cao, dồi dào. Chất lượng trứng và thịt ngày càng cao phù hợp với nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi phải bền vững, giải quyết được việc làm tại địa phương, đồng thời nâng cao thu nhập đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Phát triển chăn nuôi nhằm tăng nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp. Góp phần phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới Phát triển chăn nuôi gia cầm cho ra chất lượng sản phẩm tốt hơn, an toàn hơn cho người chăn nuôi và có sự kiểm soát chặt chẽ. Làm tăng sản lượng trứng/ đầu gia cầm mái thể hiện ở trình độ thâm canh cao. Phát triển chăn nuôi gia cầm nhằm tăng nguồn thu nhập, ổn định kinh tế , gia tăng tích lũy cho người chăn nuôi, tăng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống văn hóa ở địa phương, tạo ra của cải sản phẩm vật chất cho xã hội và cảnh quang môi trường.
NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIA CẦM 1. Huy động và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực cho chăn nuôi gia cầm Để phát triển chăn nuôi gia cầm cần phải gia tăng việc huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong chăn nuôi như: Lao động, vốn, diện tích mặt bằng, cơ sở vật chất cho chăn nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật … - Lao động chăn nuôi gia cầm: Số lượng và chất lượng của người lao động tham gia trong chăn nuôi gia cầm. - Vốn chăn nuôi gia cầm: Trong chăn nuôi gia cầm cần nguồn vốn đầu tư 15 cho cơ sở vật chất, con giống, thức ăn, chăm sóc gia cầm… Do đặc điểm của chăn nuôi gia cầm gắn với quá trình sinh học của vật nuôi; chịu ảnh hưởng rất lớn từ điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu; chính vì vậy nhu cầu vốn và sử dụng vốn trong chăn nuôi gia cầm mang tính thời vụ và đầu ra sản phẩm mang tính rủi ro cao, có thể mất vốn khi bị thiên tai, dịch bệnh. - Đất đai, mặt bằng chăn nuôi gia cầm: Trong chăn nuôi gia cầm đất đai tham gia với tư cách yếu tố nguồn lực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Đất đai, cơ sở hạ tầng có thể coi như là các loại vốn trong sản xuất chăn nuôi gia cầm. - Cơ sở vật chất cho chăn nuôi gia cầm: Chuồng trại, hệ thống cấp nước, hệ thống chiếu sáng, hệ thống xử lý chất thải… - Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ theo nghĩa chung nhất là tập hợp những hiểu biết về các phương thức và phương pháp hướng vào cải tạo tự nhiên, phục vụ các nhu cầu con người. Nhờ những kiến thức chăn nuôi và việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật chăn nuôi hiện đại có ý nghĩa tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất và giá trị của chăn nuôi gia cầm. Do đó muốn phát triển chăn nuôi gia cầm cần tăng cường phổ biến, chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi cho người sản xuất như thông qua các buổi tập huấn, tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật đến từng hộ chăn nuôi Tiêu chí đánh giá huy động và sử dụng các yếu tố nguồn lực chăn nuôi gia cầm: - Số lượng lao động, năng suất lao động - Nguồn vốn trung bình/Hộ chăn nuôi gia cầm; thu nhập/1đồng vốn - Diện tích chăn nuôi - Hệ thống chuồng trại đạt tiêu chuẩn - Số buổi tập huấn kỹ thuật chăn nuôi gia cầm - Tỷ lệ hộ ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi mới….
Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Cơ cấu sản xuất trong ngành chăn nuôi gồm: cơ cấu các loại vật nuôi; cơ cấu vật nuôi theo địa bàn; cơ cấu vật nuôi theo thành phần kinh tế; cơ cấu vật nuôi theo các phương thức chăn nuôi. Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm là sự biến đổi về vị trí, vai trò, tỷ trọng và tính cân đối vốn có giữa các yếu tố, các bộ phận, các vùng, các thành phần kinh tế cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn nhất định. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm là phải phát huy lợi thế về khả năng sản xuất một số loại vật nuôi, gia cầm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh và gia tăng giá trị, phát triển bền vững góp phần đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm phải dựa trên quan điểm cơ cấu ngành chăn nuôi và cơ cấu tổng thể ngành nông nghiệp, phù hợp với quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp, phù hợp với chủ trương phát triển nông thôn của địa phương, tỉnh cũng như chiến lược phát triển chăn nuôi của tỉnh và cả nước từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn xa hơn là 2030. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu phương thức chăn nuôi gia cầm là từ chăn nuôi thả tự nhiên sang chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp Phương thức chăn thả tự nhiên: là hình thức chăn nuôi truyền thống hiện vẫn tồn tại và phát triển hầu hết ở các vùng nông thôn. Phương thức chăn nuôi này có đặc điểm: vốn đầu tư ban đầu ít, gia cầm nuôi được thả rông, tự do tìm kiếm thức ăn, tự ấp và nuôi con. Do chăn nuôi thả tự do nên môi trường chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh khiến gia cầm dễ mắc bệnh, chết rét, tỷ lệ nuôi 17 sống thấp, hiệu quả chăn nuôi không cao.
Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi này cho chất lượng thịt rất thơm ngon, đầu tư thấp, không thích hợp với quy mô chăn nuôi lớn, yêu cầu chăn nuôi có vườn thả rộng, có ao nuôi đủ lớn. Người dân vẫn chăn nuôi là do tận dụng nguồn thức ăn sẳn có trong gia đình và nuôi với mục đích tự cung tự cấp là chính Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp: là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm chăn nuôi gia cầm truyền thống với chăn nuôi gia cầm theo quy trình có áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến qua các giai đoạn. Đây là sự kết hợp của hai phương thức chăn nuôi truyền thống và công nghiệp.