CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè 1. Khái niệm về sản xuất và phát triển sản xuất chè a.
Khái niệm về sản xuất Kinh tế học có những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về sản xuất. Theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị Mác – Leenin thì: “Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người. Sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên, nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của mình” [8]. Theo cách tiếp cận của kinh tế học cổ điển, kinh tế học tân cổ điển, hay kinh tế học vi mô, bàn về sản xuất với cách tiếp cận của chủ nghĩa cận biên (marginalism).
“Sản xuất là việc tạo ra hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi được trên thị trường để đem lại cho người sản xuất càng nhiều lợi nhuận càng tốt”. Cách tiếp cận này bàn luận nhiều hơn về các chủ thể như: chi phí sản xuất, tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, năng suất lao động cận biên, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên, v.v… Khái niệm sản xuất trong tài khoản quốc gia được định nghĩa như sau: “Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền” [15]. Tóm lại sản xuất là một quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị để chuyển những chi phí là vật chất, dịch vụ thành sản phẩm vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ đó được sản xuất ra phải có khả n 6 năng bán trên thị trường có thu tiền hoặc không thu tiền.
Đối với sản xuất nông nghiệp thì người sản xuất sử dụng sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động nông nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm để sử dụng hoặc để bán nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Khái niệm phát triển Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển: Theo Raanan Weitz, 1995: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” [6]. Phan Thúc Huân, Kinh tế phát triển,NXB Thống kê TP HCM, 2006 “Phát triển là từ viết tắt của phát triển kinh tế xã hội. Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần cho con người bằng hoạt động tạo ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa.
Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống” [11]. Theo Nguyễn Thị Oanh, phát triển cộng đồng, XB ĐH Mở BC TP HCM, 1995 thì “Phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, đó là sự tăng trưởng. Còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ” [7]. Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu chung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người.
Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân. Khái niệm về phát triển bền vững đã được hoàn thiện tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại Johannesburg (Cộng hòa Nam phi) – 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết n 7 hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc…và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể [15].
Khái niệm phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả lượng và về chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia. Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung cơ bản sau: - Tăng trưởng kinh tế, thể hiện sự gia tăng tổng thu nhập của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người dài hạn. - Cơ cấu kinh tế - xã hội chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Đối với các nước đang phát triển, đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Đó không chỉ là quá trình thay đổi trong cơ cấu kinh tế theo ngành theo hướng tiến bộ, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo cơ sở cho việc đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng. - Là quá trình gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, đặc biệt là năng lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. - Nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân từ kết quả tăng trưởng. Vài nét về cây chè a.
Cây chè và nguồn gốc cây chè Việt Nam. Chè là loại cây công nghiệp dài ngày, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiều năm, từ 30 đến 50 năm. Từ chè búp tươi, tùy theo công nghệ và cách chế biến n 8 sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè khác nhau: Chè xanh, chè đen, chè vàng, chè túi lọc v.J B Denss, một chuyên gia về chè của Hà Lan, nguyên giám đốc viện nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java (Indonexia), cố vấn của Công ty chè Đông Dương thời Pháp sau khi đi khảo sát các cây chè cổ ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang – Việt Nam đã viết về nguồn gốc cây chè trên thế giới. Trong bài viết này ông cho rằng nguồn gốc của cây chè là từ các dãy núi cạnh những con sông lớn, nhất là sông Dương tử, sông Tsikiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Việt Nam, phân tán đi.
[2] Năm 1976, viện sỹ hàn lâm khoa học Liên Xô K.Demukhatze nghiên cứu sự tiến hóa của cây chè. Tác giả đã đề xuất sơ đồ tiến hóa của cây chè như sau: Cây hoa trà – chè Việt Nam – chè Vân Nam – chè Trung Quốc – chè Assam Ấn Độ. [2] Các vùng chè Lạng Sơn, Hà Giang và đặc biệt là khu vực chè hoang với hơn 41 vạn cây chè huyết cổ thụ ở Suối Giàng (huyện Nghĩa Lộ - Yên Bái) trên độ cao hơn 1300m so với mực nước biển là những bằng chứng quan trọng cho giả thiết trên. Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau: Ngành hạt kín Angiospermae Lớp song tử diệp Dicotyledonae Bộ chè Theales Họ chè Theaceae Chi chè Camellia (Thea) Loài Camellia (Thea) sinensis.
Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận là: Camellia sinensis (L) O. Kuntze và có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis L. n 9 Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919). Cách phân loại này được nhiều người chấp nhận.
Tác giả chia Camellia sinensis L. làm 4 thứ (varietas): Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. Bohea) Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. macrophylla) Chè Shan (Camellia sinensis var.
Shan) Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. atxamica) Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam, nhưng phổ biến nhất là hai thứ C.- Camellia sinensis var. macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh, Trung du lá vàng, v. Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắc đạt tới 70%.
Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5 tấn/ha. Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh, bọ cánh tơ., ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá. Chè Trung du thường để chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt. Camellisa sinensis var.
Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng). Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh. Năng suất búp thường đạt 6 - 7 tấn/ha. Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn.
Các đặc điểm của quá trình phát triển cây chè ∗ Thời vụ Vụ Xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá. Vụ Hè Thu (tháng 5 - 10): Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá n 10 Vụ Thu Đông (Tháng 11): hái chừa lá cá , tháng 12 hái cả lá cá Với các giống chè có dạng thân bụi, sinh trưởng đỉnh đều có thể hái kéo hay hái bằng máy để nâng cao năng suất lao động. ∗ Chu kỳ phát triển Chu kỳ của một cây chè bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn cây non hay giai đoạn thiết kế cơ bản.
Các bụi chè phải trồng 3-4 năm kể từ khi gieo trồng mới phát triển thành cây trưởng thành. Sau đó là giai đoạn cây lớn và giai đoạn cuối là giai đoạn chè già cỗi. Giai đoạn chè lớn kéo dài 20 – 30 năm, tuỳ giống, điều kiện đất đai, dinh dưỡng và khai thác. Chăm sóc kém và khai thác nhiều sẽ làm cho cây chè bị suy thoái, già trước tuổi.
Đây là giai đoạn chè cho năng suất cao nhất. Sau đó là giai đoạn chè già cỗi, cây chè suy yếu dần, lá nhỏ, búp ít, chóng mù xoè, hoa quả nhiều, cành tăm hương nhiều, chồi gốc mọc nhiều. Đến giai đoạn này, người trồng chè phải dùng các biện pháp kỹ thuật để tạo tán mới cho chè như đốn đau, đốn trẻ lại. Thời gian kéo dài tuổi thọ cây chè có thể từ 5-10 năm 1.