Chương I: Tổng quan các nghiên cứu liên quan tới đề tài. - Chương II: Lý luận chung về đánh giá rủi ro trong công tác thẩm định dự án đầu tư sản xuất xi măng tại Ngân hàng thương mại. - Chương III: Thực trạng đánh giá rủi ro trong công tác thẩm định dự án đầu tư sản xuất xi măng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) giai đoạn 2008 - 2012 - Chương IV: Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá rủi ro trong công tác thẩm định dự án đầu tư sản xuất xi măng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 5 CHƢƠNG II LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ SẢN XUẤT XI MĂNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Một số vấn đề về thẩm định dự án đầu tƣ sản xuất xi măng.1 Khái niệm và đặc điểm của dự án đầu tư sản xuất xi măng.1 Khái niệm dự án đầu tư - Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư: + Theo Ngân hàng thế giới: “Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan đến nhau được hoành định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định + Theo luật đầu tư: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đồng tư trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian xác định - Xét một cách khái quát nhất về dự án đầu tư: Đứng về mặt hình thức, dự án đầu tư bao gồm nhiều hồ sơ tài liệu được thiết kế chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí, giải pháp theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và mục tiêu nhất định trong tương lai. Đứng về mặt nội dung, dự án đầu tư là nhiều hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tuân theo một kế hoạch nhất định để đạt được các mục tiêu bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong hiện tại hoặc tương lai.
Các hoạt động đó sử dụng những nguồn lực nhất định phục vụ cho từng giai đoạn cụ thể của mỗi hoạt động đó. Đứng về mặt góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng kết hợp các yếu tố nguồn lực như vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài.2 Khái niệm dự án đầu tư sản xuất xi măng Có nhiều định nghĩa về dự án đầu tư sản xuất xi măng, trong đó có thể sử dụng định nghĩa sau: 6 “Dự án đầu tư sản xuất xi măng là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung dài hạn để tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng dây chuyền/nhà máy xi măng tại một địa bàn cụ thể trong một khoảng thời gian xác định.” Một dự án đầu tư xây dựng dây chuyền/nhà máy sản xuất xi măng có thể chia thành nhiều một hoặc nhiều hạng mục như sau: - Đầu tư xây dựng nhà máy khai thác mỏ và cung cấp nguyên liệu: Toàn bộ công đoạn khai thác mỏ đá vôi, đá sét có thể được bố trí thành 1 nhà máy hoàn chỉnh. - Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất Clinker: Từ trạm đập đá vôi, đá sét cho tới Silo clinker được tách riêng thành nhà máy hoàn chỉnh - Trạm nghiền xi măng: Từ Silo Clinker đến công đoạn đóng bao và xuất xi măng .3 Đặc điểm dự án đầu tư sản xuất xi măng Hoạt động đặc thù trong lĩnh vực sản xuất xi măng, dự án đầu tư sản xuất xi măng có những nội dung đáng chú ý sau: Nguyên liệu sử dụng trong dự án sản xuất xi măng chủ yếu là sét và đá vôi. - Tài nguyên khoáng sản để sản xuất xi măng bao gồm một số loại chính là đá vôi, sét, các loại nguyên liệu điều chỉnh và phụ gia khoáng cho xi măng.1: Tổng hợp số mỏ tài nguyên và khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng trong cả nƣớc Loại Trong đó số mỏ Trữ lƣợng mở đã khảo sát (triệu tấn) Tổng TT khoáng Chƣa Đã khảo Tổng Tài nguyên số mỏ B+C1+C2 sản khảo sát sát cộng cấp P 1 Đá vôi 351 77 274 44739 12558 32181 2 Sét 260 42 218 7602 2907 4695 3 Phụ gia 152 41 111 3948 296 3652 Nguồn: Báo cáo thăm dò , khai thác và sử dụng khoáng sản làm nguyên liệu xi măng ở Việt Nam đến năm 2020 7 - Đá vôi: là nguyên liệu chính để sản xuất xi măng, chiếm tỷ trọng khoảng 80% trong thành phần phối liệu.
Chất lượng đá vôi của các vùng có khác nhau, trong đó các mỏ đá vôi trên địa bàn vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có chất lượng kém hơn các vùng khác - Sét: là một trong các nguyên liệu chính trong sản xuất xi măng, chiếm tỷ trọng khoảng 20% trong thành phần phối liệu. Hầu hết các mỏ sét ở nước ta có chất lượng đủ tiêu chuẩn về thành phần hoá theo quy định, có thể sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng. - Các nguyên liệu điều chỉnh: +Nguyên liệu điều chỉnh hàm lượng Fe2O3 thường dùng trong sản xuất xi măng bao gồm quặng sắt, xỉ pirit, quặng laterit. +Nguyên liệu điều chỉnh hàm lượng SiO2 trong phối liệu, có thể sử dụng đá quăczit, đá phiến silic, cát mịn ở bãi sông +Nguyên liệu điều chỉnh hàm lượng Al2O3 là quặng bau xit.
- Phụ gia khoáng cho xi măng: gồm phụ gia hoạt tính và phụ gia đầy. Chất lượng nguồn phụ gia khoáng cho xi măng của nước ta khá tốt, hầu hết các mỏ có độ hoạt tính cao. - Thạch cao: là phụ gia điều chỉnh thời gian đông kết của xi măng. Nước ta chưa phát hiện được mỏ thạch cao.
Thạch cao sử dụng cho sản xuất xi măng nhập từ Lào, Thái Lan, Trung Quốc những nước có nhiều thạch cao. Công nghệ và phƣơng pháp sản xuất trong các dự án xi măng Bảng 2.2: Các chỉ tiêu cơ bản về công nghệ và bảo vệ môi trƣờng trong dự án sản xuất xi măng Loại quy mô công suất (tấn clinker/ngày) Các chỉ tiêu >1000 đến < > 3000 1000 3000 Tiêu hao nhiệt (kCal/kg clinker) < 730 < 800 < 850 Tiêu hao điện (kWh/tấn xi măng) < 95 < 98 < 100 Nồng độ bụi khí thải (mg/Nm3) < 50 Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. (Do Thủ tướng Chính phủ duyệt Theo Quyết định 108/2005/QĐ-TTg ngày 16/05/2005) 8 - Hiện nay, ngành công nghiệp xi măng Việt Nam sử dụng: + Công nghệ sản xuất xi măng lò đứng và công nghệ sản xuất xi măng lò quay. + Phương pháp sản xuất: phương pháp ướt, phương pháp bán khô và phương pháp khô.
- Công nghệ sản xuất xi măng lò đứng: đây là công nghệ sản xuất được tập trung đầu tư phát triển mạnh trong giai đoạn 1993 - 1997 mà trọng tâm là chương trình phát triển 3 triệu tấn xi măng lò đứng của Chính phủ. Sản xuất xi măng theo công nghệ này chủ yếu là thủ công, mức độ tự động hóa thấp, trình độ công nghệ lạc hậu; tiêu hao nhiên liệu, điện năng lớn và gây ô nhiễm môi trƣờng. - Công nghệ sản xuất xi măng lò quay : đây là công nghệ sản xuất tiên tiến hiện nay. + Công nghệ sản xuất xi măng lò quay theo phương pháp ướt: Đây là loại công nghệ cũ có các chỉ tiêu tiêu hao về nhiên liệu và năng lượng lớn, chỉ tiêu tiêu hao nhiệt để nung clinker cao từ 1.750 Kcal/kg clinker, mức độ tiêu thụ điện năng từ 120 - 130 KWh/tấn xi măng và đặc biệt gây ô nhiễm môi trƣờng.
Theo dự kiến, 2 chuyền này sẽ được chuyển đổi sang công nghệ xi măng lò quay theo phương pháp khô trước năm 2020. + Công nghệ sản xuất xi măng lò quay theo phương pháp khô: được sử dụng rộng rãi trong các Nhà máy xi măng đã và đang đầu tư ở Việt Nam. Đây là loại công nghệ có các chỉ tiêu tiêu hao nhiên liệu và năng lƣợng thấp, có khả năng giảm thiểu mức độ gây ô nhiễm tới môi trƣờng. Các dây chuyền có mức tiêu hao nhiệt năng nung clinker dưới 730 Kcal/kg clinker, tiêu hao điện từ 90 - 100 KWh/tấn xi măng, nồng độ bụi (sau khi lọc khí) < 50 mg/Nm3 không khí.
Nguồn gốc xuất xứ máy móc thiết bị sử dụng trong các dự án đầu tƣ sản xuất xi măng - Krupp Hazemag, Bedeschi, FAM, IBAU Hamburg, Haver&Boecker, BMH, Ventomatic, CLE-Technip, Fuller, Aumund, Beumer. thiết bị điện, đo lường và điều khiển sử dụng của các hàng ABB, Siemens, Schneider, Mitsubishi. Những máy móc, thiết bị của những hãng chế tạo này có chất lượng 9 tốt, hoạt động ổn định và uy tín, thương hiệu đã được khẳng định trên thế giới. Tuy nhiên, những dây chuyền xi măng sử dụng những máy móc thiết bị này thường có chi phí đầu tƣ lớn, thời gian thu hồi vốn lâu.
- Xuất xứ từ Trung Quốc: so với các dây chuyền máy móc, thiết bị có xuất xứ từ EU, G7, dây chuyền có xuất xứ từ Trung Quốc có ưu điểm là chi phí đầu tư thấp hơn từ 30 - 40%, thời gian thu hồi vốn nhanh. Tuy nhiên, chất lượng máy móc thiết bị có xuất xứ từ Trung Quốc có phần hạn chế hơn so với xuất xứ từ hãng chế tạo nổi tiếng ở EU, G7 và nhiều loại máy lớn. - Thiết bị chế tạo trong nước: một số bộ phận đơn giản có thể được chế tạo trong nước như: vỏ bao che, sàn thao tác, một phần vỏ lò nung <30mm. Dự án đầu tƣ sản xuất xi măng gây ô nhiễm môi trƣờng - Nguồn thải của dự án xi măng gây ô nhiễm không khí.
Nguồn gây ô nhiễm không khí của dây chuyền sản xuất xi măng chủ yếu là bụi (bụi đá vôi, sét, than, thạch cao, clinker, xi măng.) phát sinh trong quá trình tiếp nhận, đập, nghiền, vận chuyển nguyên nhiên liệu, xuất sản phẩm và khói, bụi, khí độc hại của hệ thống lò nung và làm nguội. - Nguồn thải của dự án xi măng gây ô nhiễm nguồn nước Nước thải từ các quá trình làm nguội thiết bị có nhiệt độ cao, chứa váng dầu và một lượng nhất định cặn lơ lửng; nước thải rửa thiết bị, vệ sinh. có làm lượng dầu, cặn lơ lửng, COD lớn; nước thải rửa sân, tưới sân, khử bụi. có hàm lượng cặn lơ lửng lớn (500 - 1.500 mg/1), độ kiềm cao (pH thường > 8,0; nước thải sinh hoạt của nhà máy có hàm lượng cặn lơ lửng, BOD, nitơ amôn.
cao, các loại vi khuẩn gây bệnh đặc trưng bằng chỉ số Coliform và Feacal Coliforms lớn thông thường từ (l04 - 106 MPN/100 ml).