Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Công tác quy hoạch và kế hoạch phân bổ sử dụng đất đã được Hiến pháp nhà nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng và có hiệu quả”(Điều 18, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992). Sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là việc làm cần thiết vì nó mang lại mô hình phù hợp, tránh lãng phí nguồn tài nguyên. Với yêu cầu chung của các địa phương trong cả nước là xây dựng một cơ cấu sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao và bảo vệ nguồn tài nguyên đất góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển tiến tới cải thiện nâng cao đời sống của người dân.
Bởi vậy mỗi đơn vị hành chính nhất thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch đất đai mang tính chất dự báo và thể hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các vùng lãnh thổ trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả. Một thực tế đang tồn tại ở các địa phương, đặc biệt là ở cấp xã việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai thường làm không đúng theo quy trình nên không đạt được hiệu quả cao, quy hoạch phải làm đi làm lại nhiều lần gây tốn kém cả về công sức, thời gian và tiền bạc. Vì vậy việc đánh giá kết quả quy hoạch sử dụng đất để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện của các phương án quy hoạch sử dụng đất hiện nay là rất cần thiết.
Xã Lạng San là một xã đang có nhiều chuyển biến trong phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh đều tăng. Trong khi nguồn tài nguyên đất đai có hạn và chưa được c 2 khai thác đưa vào sử dụng có hiệu quả. Vì vậy đòi hỏi công tác quy hoạch sử dụng đất cần đáp ứng được các mục tiêu phân bố và bố trí lại quỹ đất hợp lý, đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội tại địa bàn xã. Xuất phát từ vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại xã Lạng San - huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011 - 2015”.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Đánh giá được kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Lạng San giai đoạn 2011 - 2015. - Xác định được những tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại trong công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Lạng San trong các giai đoạn sau. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức và tìm hiểu thực tế về công tác thành lập quy hoạch và các quy phạm của nó trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý số liệu của sinh viên trong quá trình làm đề tài. Ý nghĩa trong thực tiễn Qua quá trình nghiên cứu về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại xã sẽ rút ra được những tồn tại, thiếu sót của công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có những giải pháp phù hợp để khắc phục. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Khái niệm đất đai và vai trò của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội 2. Khái niệm đất đai Cho tới nay có nhiều định nghĩa về đất đai nhưng định nghĩa của Đocutraep (1879), nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất. Theo tác giả thì: “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động của 5 yếu tố là đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, Giáo trình kinh tế đất, 2006)[7]. Theo cách định nghĩa của FAO: “Đất đai là một tổng thể vật chất bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”.
Như vậy đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị theo ý niệm của con người. Theo cách định nghĩa này đất đai thường được gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sở hữu. Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế xã hội của một tổng thể vật chất. “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả con người trong quá khứ và hiện tại để lại.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và ngay từ kì sơ khai thì con người đã biết sử dụng đất để phục vụ cho đời sống của mình: để ở và sản xuất. c 4 Đất đai là điều kiện vất chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động, do đó đất đai là “Tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên đất đai có những tính chất đặc biệt khác với các tư liệu sản xuất khác: - Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động, chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Trong khi đó các tư liệu sản xuất khác là kết quả của sức lao động do con người tạo ra.
- Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu xã hội. - Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng, các tính chất lý hóa, quyết định bởi yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về tiêu chuẩn, quy cách.
- Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là không thể làm được. Các tư liệu sản xuất khác, tùy thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. - Tính cố định về vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định về vị trí trong sử dụng. Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng mọi chỗ mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tùy theo sự cần thiết.
- Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu. Nếu biết sử dụng hợp lý trong sản xuất nông nghiệp đất sẽ không bị thoái hóa, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội, môi trường Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất trong xã hội nhưng với từng ngành cụ thể nó có vai trò khác nhau: c 5 - Đối với ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong lòng đất.
- Đối với nông lâm - nghiệp: Đất không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành sản xuất này mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất. Quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp còn liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên của đất. - Đối với môi trường: Đất được coi như một “Hệ đệm”, như một “Phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với tất cả các chất thải thông qua hoạt động sống của vi sinh vật nói chung và con người nói riêng. Khái niệm quy hoạch sử dụng đất QHSDĐ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất:[8] - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất.
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. - Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo quy hoạch sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật.