MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1993 và Luật Đất đai 2003 (Chương II: Quyền của Nhà nước đối với đất đai - Mục 2 – điều 21 đến điều 30 Luật Đất đai 2003). Hiện nay các ngành kinh tế và các nhu cầu trong xã hội về đất đai ngày một tăng, biến động đất đai ngày càng nhiều.
Vì vậy công tác quản lý và sử dụng đất đai đã và đang được qua tâm, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả. Nghiên cứu tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai, xem xét các dự án quy hoạch sử dụng đất đai khi đưa vào thực hiện đạt mục đích đề ra, đem lại hiệu quả và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nhận rõ tầm quan trọng của công tác QHSD đất, quá trình triển khai và thực hiện công tác đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn bộc lộ một số tồn tại. Đặc biệt sau khi quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt và đưa vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn nhiều bất cập trong quản lý và sử dụng đất, vì vậy công tác đánh giá quy hoạch sử dụng đất là rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài Nguyên, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Đình Thi, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn phường Phú Xá – TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2014”. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Phú Xá – TP. Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2014 tìm ra những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập trong việc tổ chức thực hiện phương án quy hoạch. - Đề xuất giải pháp để thực hiện có hiệu quả phương án quy hoạch sử dụng đất trong tương lai, đảm bảo hài hòa giữa các mục đích ngắn hạn và dài hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất của phường Phú Xá, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của thành phố, của tỉnh.
Yêu cầu của đề tài - Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, khách quan. Các tiêu chí đánh giá đảm bảo tính thống nhất và hệ thống. - Bám sát báo cáo quy hoạch của Phường với tình hình thực tế. - Đánh giá kết quả đạt được và chưa đạt được, những tồn tại trong phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015.
Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ xung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế, hiểu rõ tầm quan trọng của việc thực hiện đánh giá công tác quy hoạch. Biết cách thực hiện một đề tài khoa học và cách hoàn thành một khóa luận tốt nghiệp. * Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn phường, xác định những tồn tại chủ yếu trong việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, nguyên nhân và những giải pháp khắc phục. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở pháp lý của đề tài Với đặc điểm “đất chật người đông” nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, chú trọng tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất giúp người dân yên tâm sản xuất, đưa đất nước phát triển đi lên trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay. Sự quan tâm của Đảng thể hiện ngay trong hệ thống các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật và các nghị định hướng dẫn thi hành luật. Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho các cấp thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. - Công văn 429/TCQLĐĐ-CQH ĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 về việc hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, (1992) đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương 2, điều 18). - Luật Đất đai 1993, Nxb Chính trị Hà Nội. - Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Nxb Chính trị, Hà Nội - Luật sửa, đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, Nxb Chính trị Hà Nội. - Luật Đất đai năm 2003 Nxb Chính trị Hà Nội.
- Nghị định số 181/2004/ NĐ - CP của chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003. e 4 - Nghị định 69/2009/NĐ-CP [11] ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. - Thông tư 30/2004/TT - BTNMT [3] của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Thông tư 19/2009/TT-BTNMT [12] ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ tài nguyên môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT [13] ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. - Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT [6] ngày 30/06/2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoach, kế hoạch sử dụng đất. - Quyết định số 58/2007/QĐ-Ttg ngày 4/5/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 - Quyết định số 7/2008/QĐUB ngày 27/2/2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch Tổng thể kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 - Quyết định số 2839/2013/QĐUB ngày 23/12/2013 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015) thành phố Thái Nguyên đến năm 2020 - Thông tư số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giao đất thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư e 5 Do vậy, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất trong cả nước mà vẫn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng thì các cấp lãnh đạo cần phải căn cứ vào các quy định của Nhà nước về thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này đã khẳng định tính pháp chế của nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức. đất đai là một thành phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính.) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Vì vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội, nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai. Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất.[5] Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kĩ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả e 6 cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường. Bản chất của quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kĩ thuật, pháp chế.
Trong đó cần hiểu: - Kinh tế: thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai. - Kĩ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý dữ liệu, bố trí sử dụng đất. - Pháp chế: là việc xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng quản lý đất đúng pháp luật.[5] Công tác quy hoạch sử dụng đất đai cần phải nắm vững hệ thống các biện pháp kinh tế, kĩ thuật, pháp chế của Nhà nước và tổ chức quản lý sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất. Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các mục tiêu sau: Tính đầy đủ: mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định.
Tính hợp lý: đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng. Tính khoa học: áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến. Tính hiệu quả: đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.