CHƯƠNG 1: TONG QUAN DE TÀI NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA QUY HOẠCH SU DỤNG DAT 1. Tài nguyên đất 1.1 Khái niệm Theo góc độ nghiên cứu của đề tài thì tài nguyên đất được hiểu: đất là yếu tổ của sản xuất có nguồn sốc từ tự nhiên, biểu hiện dưới hình thái mặt đất với diện tích cụ thể và những đặc tính tương đối ổn định về khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất, thuỷ văn, động thực vật sống trên đó. Đặc điểm Tai nguyên đất có tính cố định, không di chuyển được.
Bên cạnh đó, tài nguyên đất không giống các loại tài nguyên khác ở đặc điểm có thể sản sinh trong quá trình sản xuất, vì vậy tài nguyên dat là có hạn. Tuy nhiên, giá trị của tài nguyên đất ở những vi trí khác nhau cũng khác nhau. Vi dụ, đất ở khu vực nông thôn và các vùng sâu vùng xa có giá trị nhỏ hơn đất ở khu vực thành thị; và sẽ có sự chênh lệch về giá tri giữa đất ở những nơi có thể tạo ra nhiều nguồn lợi hơn, cung cấp các điều kiện về cơ sở hạ tầng hoàn thiện hơn với đất ở những nơi có điều kiện kém hon. Vi vậy, néu những điều kiện xung quanh vi trí đất đai trở nên tốt hơn, giá tri của nó sẽ tăng lên.
Tài nguyên đất không hao mòn theo thời gian và giá trị của chúng luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. Tài nguyên đất có tính đa dạng và phong phú tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng của nó và phù hợp với từng khu vực địa lý. Ví dụ, đối với tài nguyên đất trong nông nghiệp thì tính đa dạng của chúng phụ thuộc vào khả năng thích nghi của loại cây, loại con sống trên đất đó; ngoài ra còn phụ thuộc vào mục dich sử dụng từng loại đất. Tài nguyên đất là tư liệu sản xuất gắn liền với đời sống của con người.
Những tác động của con người vào đất là nhằm thu lợi để phục vụ nhu cầu của mình. Những tác động này có thé là gián tiếp hoặc trực tiếp, và sẽ làm thay đổi tính chất hay mục đích sử dụng của đất, từ đó biến đất từ sản phẩm của tự nhiên trở thành sản phẩm của lao động. Trong một xã hội có giai cấp, các quan hệ đất đai chủ yếu là quan hệ giữa chủ đất và người thuê đất, giữa những người thuê đất và chủ đất với nhau. Thế nhưng, các quan hệ đất đai trở nên phong phú hơn trong nền kinh tế thị trường, bao gồm trao đổi, chuyển nhượng, mua bán quyền sử dung đất, từ đó hình thành thị trường đất đai.
Khi đó, tài nguyên đất trở thành một loại hàng hóa đặc biệt. Vai trò Tài nguyên đất có nguồn gốc tự nhiên. Theo thời gian, con người xuất hiện và tạo ra những tác động vào dat, biến chúng thành sản phẩm cua lao động. “Dat dai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện dé sinh tồn, là điều kiện không thé thiếu được dé sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” [16].
Vì vậy nếu không có đất thì con người không thé tiến hành hoạt động sản xuất dé duy trì cuộc sống và giống nòi đến bây giờ. Qua một thời gian lịch sử lâu dài, con người biến đất đai trở thành tài sản của cộng đồng. “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay! [17] Từ đó có thé thấy, tài nguyên đất còn có giá trị quan trọng về mặt chính trị.
Tài sản quý giá ấy phải được bảo vệ bằng cả xương máu và qua đó một quốc gia có thé thé hiện sức mạnh của mình, ranh giới quốc gia còn thé hiện chủ quyền của một quốc gia. Phân loại Theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: a. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm dat sử dụng dé xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, ké cả các hình thức trồng trọt không trực tiép trên dat; xây dựng chuông trai chăn nuôi gia súc, gia cam và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; b. Nhóm dat phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: - Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; - Đất xây dựng trụ sở cơ quan; - Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của t6 chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tẾ, giáo dục và đảo tạo, thé dục thé thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; - Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thong đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử — văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải tri công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; - Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng: - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa tang; - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; - Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho va nhà dé chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gan liền với dat ở; c.
Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Quy hoạch sir dụng đất 1. Khái niệm Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 Luật đất đai 2013: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bỗ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.” [8] Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế-xã hội có tính đặc thù, đây là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế-xã hội được xử lý băng các biện pháp phân tích, tổng hợp về sự phân bồ địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội dé tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhằm đáp ứng nhu cau sử dụng dat hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm, khoa học và có hiệu quả nhất. Chúng không chỉ đơn thuần là các biện pháp kỹ thuật hay là một quy phạm pháp luật thông thường.
Xét một cách toàn diện, QHSD dat là một hiện tượng kinh té- xã hội đặc thù thé hiện đồng thời ba tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó: Tính kinh tế: Thé hiện bằng hiệu quả sử dung đất đai; Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục dich và quyền sử dụng dat theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tong hop trung va dai han, là bộ phan hợp thành quan trọng của hệ thống quy hoạch, kế hoạch phat triển xã hội và kinh tế quốc dân.
Các đặc điểm của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thé hiện cụ thé như sau: (Niên giám thống kê 2000, 2005, 2010) * Tinh lich sử - xã hội: Lich sử phát triển của xã hội chính là lich sử phát trién của QHSD đất. Mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thê hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong QHSD đất luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đât đai cũng như quan hệ giữa người với người về quyên sở hữu và sử dụng đất dai. QHSD dat thể hiện đồng thời vừa là yếu tố thúc đây phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tô thúc đây các mối quan hệ sản xuất, vi vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội.
* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của QHSD dat biéu hiện chủ yêu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ. toàn bộ tài nguyên đất cho nhu cầu nền kinh tế quốc dân; QHSD đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái.