CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm và quan điểm chung về QLRBV QLRBV được đặt ra do nhu cầu phát triển bền vững trên toàn thế giới. Phát triển bền vững là một quá trình với những khái niệm: “Phát triển bền vững là bảo tồn và tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới của hệ sinh thái” - Hội nghị Paris, 11/1991. “Phát triển bền vững là phát triển phải thỏa mãn nhu cầu của người hiện tại không được gây tổn hại cho đời sau” – Brazin, 4/1992.
Rừng là một trong số các nguồn tài nguyên thiên nhiên được chú trọng bởi vai trò và tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như khu vực và thế giới. Như các dạng tài nguyên khác, rừng là đối tượng tài nguyên cần phải kinh doanh theo các tiêu chí của phát triển bền vững từ đó khỏi niệm về QLRBV được đưa ra: ITTO, 2005 định nghĩa “QLRBV là Quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý có thể có liên quan tới việc sản xuất lưu thông liên tục các lâm sản và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm quá mức về những giá trị vốn có và năng suất trong tương lai và không có những hiệu quả không mong muốn quá đáng về môi trường tự nhiên và xã hội.” Tiến trình Helsinki định nghĩa: “QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia, toàn cầu, và không gây ra những tổn hại đối với các hệ sinh thái khác.” Năm 1993, hội nghị bộ trưởng lâm nghiệp các nước trên thế giới (tại châu Âu) đã đề xuất “Kinh doanh rừng là tiến hành kinh doanh và lợi dụng rừng với các phương pháp và cường độ nào đó để làm sao nâng cao việc bảo tồn tính đa dạng sinh vật, sức sản xuất, năng lực tái sinh, sức sống và phát huy được chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội ở mức độ khu vực, quốc gia và toàn cầu hiện tại và trong tương lai.” QLRBV là một thuật ngữ được nhiều cơ quan tổ chức đưa ra, đối với từng cơ quan, tại những thời điểm khác nhau lại có cách hiểu khác nhau nhưng đều thể hiện nguyện vọng cơ bản của con người là thúc đẩy và lợi dụng lâu dài rừng với những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 vai trò của nó ở mức độ cao về các mặt kinh tế, môi trường, xã hội, cảnh quan. QLRBV cũng được đánh giá bằng nhiều phương pháp và tiêu chí khác nhau nhưng cốt lõi vẫn dựa trên các nguyên tắc và thực thi: phòng hộ (i), tuân theo tự nhiên (ii), tính công ích của rừng (iii), lợi dụng và tiết kiệm (iv). QLRBV đạt được mục tiêu của nhà quản lý đề ra đòi hỏi thực hiện những giải pháp kỹ thuật lâm sinh, những biện pháp quản lý kinh tế, xã hội tại rừng, khu vực quanh rừng với đối tượng quản lý trực tiếp là rừng, cộng đồng sống quanh rừng.
Mặc dù thuật ngữ về QLRBV ra đời cách đây không lâu và được đưa ra như một nguyên tắc, nhiệm vụ bắt buộc trên toàn thế giới nhưng những biện pháp lâm sinh, quy chế quản lý kinh tế xã hội nhằm đạt tới mục tiêu bền vững đó được thực hiện tại nhiều nơi ở những cấp độ khác nhau. + Đầu thế kỷ XVIII các nhà lâm học Đức: G.Harting, Heyer, Hundesagen đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi. + Cũng vào thời gian này, nhà lâm học người Pháp, Gournad; và nhà lâm nghiệp Thụy Sỹ, H.Biolley cũng đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn. Nội dung cơ bản trong QLRBV là đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng bền vững tài nguyên rừng trên các mặt: - Về kinh tế: Đạt năng suất cao và ngày càng tăng; chất lượng tốt; đạt giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích cao; giảm rủi ro đến mức tối thiểu.
- Về mặt môi trường: Duy trì và không ngừng cải thiện sức sản xuất của đất; Tăng độ che phủ của lớp thảm thực vật; bảo vệ nguồn nước - Về mặt sinh thái và đa dạng sinh học: Tăng cường sức chống chịu của hệ sinh thái; bảo tồn đa dạng sinh học - Về mặt xã hội nhân văn: Khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của con người; sự phù hợp với năng lực thực tế của người thực hiện; không ngừng nâng cao khả năng thu nhập của người dân; phù hợp với pháp luật hiện hành; sự chấp nhận của cộng đồng Để đạt được hiệu quả tổng hợp các mặt trên, nhà quản lý phải có những biện pháp tác động thích hợp trên nhiều phương diện từ gián tiếp đến trực tiếp, từ bên ngoài và từ bên trong tới rừng. Có thể phân chia thành 2 nhóm cơ bản: (1) nhóm các tác động xã hội và (2) nhóm tác động về mặt kỹ thuật. Các biện pháp kỹ thuật cần đảm bảo phù hợp với cấu trúc hiện tại và động thái rừng trong tương lai, các biện pháp xã hội cần quan tâm tới xu thế và tác động xã hội. Muốn vậy, đối với mỗi đơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vị sản xuất, mỗi đơn vị rừng cần được nghiên cứu đầy đủ về cấu trúc và động thái từ đó kết hợp với các tiêu chí khác đưa ra biện pháp tác động sao cho kinh doanh có hiệu quả nhất.
CCR bao gồm cả chứng chỉ gỗ, là công cụ để giúp thực hiện QLRBV. Có được CCR thể hiện tác dụng trên các mặt: kinh tế, xã hội, môi trường mà chủ thể quản lý đạt được. CCR được các tổ chức cấp trên nguyên tắc: CCR áp dụng cho mọi đơn vị quản lý rừng có chức năng sản xuất lâm sản và đang thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, với quy mô khác nhau, kể cả khu vực nhà nước và tư nhân. CCR là một quá trình hoàn toàn tự nguyện.
Các tổ chức cấp CCR trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều các tổ chức được quyền cấp CCR, mỗi tổ chức đều xây dựng những nguyên tắc, tiêu chuẩn, tiêu chí riêng để đánh giá, giám sát tính bền vững trong quản lý rừng. Trong đó nổi bật là một số tổ chức với tầm hoạt động trên khắp thế giới: 1) Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council - FSC) 2) Tổ chức cấp chứng chỉ rừng liên châu Âu (The Pan - European Forest Certification - PEFC) 3) Tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia Malaysia và Kerhout Hội đồng quản trị rừng thế giới đã uỷ quyền cho nhiều tổ chức được cấp chứng chỉ rừng như: 1. SGS Forestry - QUALIFOR (Anh) 2. Hiệp hội đất, Chương trình Woodmark (Anh) 3.
BM TRADA Certification (Anh) 4. Hệ thống chứng chỉ khoa học (Scientific Certification System), chương trình bảo tồn rừng (Mỹ) 5. Liên minh Rừng mưa (Rainforest Alliance), Chương trình Smartwood 6. Silva Forest Foundation (Canada) 8.
GFA Terra System (Đức) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. South African Bureau for Standards - SABS (Nam Phi) 10. Institute for Martokologic - IMO, (Thôy sỹ ) 1.Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng lớn trên toàn thế giới. FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto – Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ.
Năm 1994 các thành viên sáng lập đó thông qua các nguyên tắc và tiêu chuẩn FSC, cùng với Quy chế FSC (ngày nay gọi là By-Laws) áp dụng đánh giá cho rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác. Trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn – Đức. Cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng. FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia.
Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển). Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC. FSC ủy quyền cho 10 cơ quan trên thế giới cấp chứng chỉ có trụ sở tại Anh, Mỹ, Hà Lan, Đức, Canada, Nam Phi, Thụy Sĩ. Tại Châu Á – Thái Bình Dương, Lâm trường SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp CCR.
Các lợi ích FSC tạo ra: - Lợi ích về môi trường: Đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia vào thương mại lâm sản rằng các đóng góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động. Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất… 2. Duy trì các chức năng sinh thái và thể thống nhất của rừng. Bảo vệ các loại động, thực vật quý hiếm và môi trường sống của chúng.
- Lợi ích về xã hội: Đảm bảo quyền con người được tôn trọng. Nhiệm vụ chính là yêu cầu có sự tham gia của nhiều thành phần có liên quan khi xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu vực. - Lợi ích về kinh tế: Đó là chủ rừng cần phải cố gắng đạt được cách sử dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV.
Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá và phù hợp với các điều kiện có thể của mình. Các bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp chứng chỉ tại quốc gia hoặc khu vực đó. CCR được áp dụng cho tất cả các đơn vị quản lý rừng với các quy mô lớn nhỏ bất kể là sở hữu nhà nước hay tư nhân. Đây là một quá trình hoàn toàn tự nguyện của các chủ rừng.
Tuy nhiên, đánh giá cấp CCR chỉ được áp dụng cho các đơn vị đang quản lý rừng sản xuất và đang hoạt động quản lý kinh doanh.