Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2001-2011, hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam chứng kiến bước phát triển vượt bậc khi quy mô tăng nhanh từ 23 trường lên 82 trường, tương đương mức tăng trưởng 357%. Số lượng sinh viên theo học tại các cơ sở này cũng tăng vọt 331%, từ 101,1 nghìn sinh viên lên 335 nghìn sinh viên, chiếm khoảng 1/5 tổng số trường và 1/7 tổng quy mô sinh viên trên cả nước. Dù đóng góp to lớn trong việc chia sẻ gánh nặng ngân sách nhà nước, khu vực đại học ngoài công lập đang đối mặt với nhiều khủng hoảng nghiêm trọng về chất lượng đào tạo, năng lực đội ngũ giảng viên, sự sụt giảm nguồn tuyển sinh đầu vào và các tranh chấp phức tạp về quyền sở hữu tài sản.
Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu xoay quanh tính bất cập trong các chính sách can thiệp của Nhà nước đối với các trường đại học tư thục, nổi bật là rào cản từ quy định điểm sàn và việc bắt buộc chuyển đổi từ loại hình dân lập sang tư thục theo Quyết định 122/2006/QĐ-TTg. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá khách quan thực trạng quản lý nhà nước, làm rõ những nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng giữa quy mô và chất lượng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các trường đại học tư thục và dân lập trên toàn quốc trong tiến trình chuyển đổi từ năm 1995 đến năm 2013, không bao gồm các trường có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế tự chủ cho hơn 80 cơ sở giáo dục ngoài công lập, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hàng trăm nghìn người học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học công cộng về thất bại thị trường (Market Failure). Về bản chất, giáo dục đại học là một dịch vụ tư thuần túy có tính loại trừ và tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Tuy nhiên, dịch vụ này mang lại ngoại tác tích cực to lớn cho xã hội, đồng thời thị trường giáo dục luôn tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng giữa người học và cơ sở đào tạo. Khi thị trường vận hành không hiệu quả dẫn đến chất lượng suy giảm và nguy cơ tan rã của hệ thống trường tư, Nhà nước có đầy đủ cơ sở can thiệp để sửa chữa các khuyết tật này.
Mô hình nghiên cứu áp dụng cây quyết định can thiệp của Nhà nước theo khung phân tích của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các chuyên gia quản trị công, tập trung vào phương thức duy trì thẩm quyền thông qua hệ thống quy chuẩn pháp lý và điều tiết tài chính. Để đo lường mức độ hiệu quả của chính sách, luận văn sử dụng bộ 8 tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ban hành năm 2005. Ba khái niệm chủ đạo xuyên suốt công trình gồm: trường đại học tư thục vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, quản lý nhà nước về giáo dục đại học, và quyền sở hữu tài sản chung hợp nhất không phân chia.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính chuẩn tắc kết hợp với rà soát và đối chiếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm Luật Giáo dục 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Giáo dục Đại học 2012, Quyết định 61/2009/QĐ-TTg, Quyết định 63/2011/QĐ-TTg và Thông tư 57/2011/TT-BGDĐT.
Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê giai đoạn 1995-2011, các báo cáo chuyên đề của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và UNESCO. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế bao gồm dữ liệu từ đợt thanh tra 30 trường đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2012, cùng các nghiên cứu điển hình chuyên sâu tại Đại học Dân lập Thăng Long, Đại học Văn Lang và Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu mục đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bóc tách sâu các xung đột đại diện và tranh chấp thể chế. Lý do lựa chọn phân tích định tính dựa trên khung tiêu chuẩn OECD là nhằm giải mã những rào cản vận hành mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần không thể lượng hóa trọn vẹn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, sự tăng trưởng quy mô không đi đôi với phát triển nguồn lực. Tỷ lệ sinh viên trên một giảng viên tại các trường ngoài công lập có giai đoạn chạm mức đỉnh điểm 39 sinh viên/giảng viên, cao hơn nhiều so với mức trung bình 30/1 của toàn quốc và vượt trội so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia (20/1) hay Indonesia (15/1). Đội ngũ giảng viên cơ hữu chỉ chiếm khoảng 30%, trong khi hơn 60% phụ thuộc vào giảng viên thỉnh giảng. Tỷ lệ công bố nghiên cứu khoa học ở khối trường tư chỉ đạt mức 1 bài báo trên 100 giảng viên, thấp hơn 39 lần so với mức 39 bài báo trên 100 giảng viên của khối trường công lập.
Thứ hai, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được tín hiệu của thị trường lao động. Khảo sát nhu cầu việc làm giai đoạn 2009-2012 trên 10.000 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng có 20% cử nhân thất nghiệp hoặc phải làm công việc dưới trình độ, và 50% trong số người tìm được việc phải làm trái ngành nghề đào tạo. Đáng chú ý, một khảo sát độc lập khác cho thấy tỷ lệ cử nhân tốt nghiệp làm đúng chuyên môn chỉ đạt mức khiêm tốn 19%.
Thứ ba, sự méo mó trong chính sách tuyển sinh tạo ra rủi ro hiện hữu cho các trường tư thục. Việc áp dụng mức điểm sàn cứng nhắc kết hợp với việc các trường công lập tăng mạnh chỉ tiêu lên 504.000 chỉ tiêu vào năm 2012 đã đẩy khối trường tư vào tình trạng cạn kiệt nguồn tuyển. Đợt thanh tra 30 trường cho thấy 21 trường vi phạm chỉ tiêu, nhiều trường tư thục tuyển sinh đạt tỷ lệ vô cùng thấp như Đại học Lương Thế Vinh đạt 0%, Đại học Phan Châu Trinh chỉ đạt 4%, và Đại học Công nghệ Đông Á đạt 5,6% chỉ tiêu.
Thứ tư, quá trình chuyển đổi loại hình sở hữu từ dân lập sang tư thục bị đình trệ nghiêm trọng. Sau Quyết định 122/2006/QĐ-TTg, trong số 19 trường dân lập bắt buộc phải chuyển đổi thì đến năm 2013 mới chỉ có 2 trường hoàn tất. Nguyên nhân do khối tài sản tích lũy không chia tăng từ vài tỷ ban đầu lên hàng chục, hàng trăm tỷ đồng nhưng không được xác định rõ chủ quyền sở hữu, tiêu biểu như cơ sở đất đai của Đại học Văn Lang tăng giá trị định giá từ 13,9 tỷ đồng lên 96 tỷ đồng, hay vụ việc tranh chấp điều hành tại Đại học Hùng Vương khi giá trị tài sản biến động từ 17 tỷ đồng lên 22 tỷ đồng.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự xung đột sâu sắc giữa mục tiêu quản lý nhà nước và động lực phát triển thị trường. Việc cơ quan quản lý áp đặt quy chế tổ chức của một công ty cổ phần thương mại lên trường đại học tư thục theo Quyết định 61 và Quyết định 63 đã triệt tiêu không gian của mô hình giáo dục phi lợi nhuận. Sự đối kháng giữa Hội đồng quản trị đại diện cho vốn góp và Ban giám hiệu đại diện cho giới học thuật tạo ra chi phí đại diện khổng lồ, làm tê liệt hoạt động quản trị nội bộ.
Về phương thức biểu diễn trực quan, các phát hiện về sự chênh lệch nguồn lực có thể được mô hình hóa tối ưu qua biểu đồ kết hợp (Combo Chart) giữa đường tăng trưởng sinh viên (tăng 331%) và cột tỷ lệ giảng viên cơ hữu (chỉ chiếm 30%). Bên cạnh đó, bảng ma trận so sánh các điều khoản pháp lý giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Quyết định 63/2011/QĐ-TTg làm sáng tỏ điểm nghẽn khi người đại diện phần vốn sở hữu chung có thể nắm giữ tới hơn 51% hoặc thậm chí 67% quyền biểu quyết sau 5 năm tích lũy cổ tức, tước bỏ quyền kiểm soát của các cổ đông sáng lập. Điều này giải thích tại sao chính sách quản lý chưa đạt được tiêu chí giảm thiểu biến dạng thị trường và tiêu chí rõ ràng, thực tế theo chuẩn mực OECD.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tái cấu trúc hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chủ trì sửa đổi 10 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng định lượng rõ ràng trong giai đoạn 2014-2015. Các trường đại học tư thục phải hành động ngay để nâng tỷ lệ giảng viên cơ hữu lên tối thiểu 50%, kiểm soát tỷ lệ sinh viên trên một giảng viên xuống dưới mức 25/1, đồng thời trích tối thiểu 5% tổng thu học phí hàng năm cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, bãi bỏ rào cản điểm sàn và trao quyền tự chủ tuyển sinh đa tiêu chí. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần hoàn thiện quy chế cho phép các trường ngoài công lập tự chủ xét tuyển bắt đầu từ kỳ tuyển sinh năm 2014. Khuyến khích các trường áp dụng mô hình tuyển sinh kết hợp 5 tiêu chí độc lập gồm: điểm thi đại học (20%), điểm tốt nghiệp trung học phổ thông (20%), học bạ 3 năm cấp ba (20%), bài kiểm tra tư duy (20%) và phỏng vấn trực tiếp (20%), phấn đấu nâng tỷ lệ tuyển sinh thực tế của khối trường tư đạt trên 80% chỉ tiêu hợp lý.
Thứ ba, minh bạch hóa khung pháp lý về phân loại mô hình và giải quyết dứt điểm quyền sở hữu tài sản. Chính phủ cần ban hành Nghị định phân định rạch ròi giữa trường đại học tư thục vì lợi nhuận và trường đại học tư thục phi lợi nhuận trước năm 2015. Đối với các trường hoạt động vì lợi nhuận, thực hiện cơ chế cổ phần hóa toàn bộ giá trị tài sản hiện hữu theo nguyên tắc bảo toàn vốn của Luật Doanh nghiệp nhằm giải quyết 100% các vướng mắc về tài sản tích lũy chung không phân chia.
Thứ tư, hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính và kiểm toán bắt buộc. Bộ Tài chính phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực thi chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần lợi nhuận tái đầu tư vào giáo dục, bố trí quỹ đất sạch đảm bảo định mức diện tích sàn xây dựng tối thiểu 2 mét vuông trên một sinh viên trong lộ trình 2014-2016, giúp giảm từ 15% đến 20% chi phí vận hành cơ sở vật chất cho các cơ sở tư thục.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tiêu cực của quy định hành chính cứng nhắc, làm cơ sở xây dựng chính sách phân luồng và quản lý chỉ tiêu tuyển sinh bình đẳng giữa công và tư.
Nhóm 2: Hội đồng quản trị, Ban giám hiệu và các nhà sáng lập trường đại học tư thục, dân lập. Nghiên cứu mang lại giải pháp tháo gỡ tranh chấp quyền sở hữu tài sản tích lũy, định hướng chiến lược chuyển đổi mô hình và xây dựng phương án tuyển sinh đa tiêu chí để thoát khỏi nguy cơ cạn kiệt nguồn tuyển.
Nhóm 3: Các nhà đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư và tổ chức tài chính quan tâm đến lĩnh vực giáo dục. Tài liệu phân tích rõ cấu trúc rủi ro pháp lý, sự khác biệt giữa mô hình vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định góp vốn an toàn và hiệu quả.
Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu chính sách công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về việc ứng dụng khung đánh giá 8 tiêu chí của OECD và lý thuyết thất bại thị trường vào việc mổ xẻ chính sách kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Vì sao tỷ lệ sinh viên trên giảng viên tại các trường đại học ngoài công lập từng chạm ngưỡng 39/1?
Tình trạng này xảy ra do giai đoạn 2001-2011 quy mô sinh viên tăng vọt 331% trong khi nguồn lực giảng viên không tăng tương ứng. Các trường chủ yếu dựa vào hơn 60% giảng viên thỉnh giảng từ trường công lập và chỉ duy trì khoảng 30% giảng viên cơ hữu nhằm tối đa hóa doanh thu ngắn hạn.
Câu hỏi 2: Chính sách điểm sàn quốc gia đã tác động tiêu cực như thế nào đến tuyển sinh của các trường tư thục?
Quy định điểm sàn cố định hạn chế lượng thí sinh đủ điều kiện, trong khi các trường công lập tăng chỉ tiêu lên 504.000 vào năm 2012. Hậu quả là nguồn tuyển của trường tư bị hút cạn, khiến nhiều đơn vị chỉ tuyển được dưới 10% chỉ tiêu, cá biệt có trường đạt 0%.
Câu hỏi 3: Điểm nghẽn lớn nhất trong việc chuyển đổi trường đại học dân lập sang tư thục theo Quyết định 122 là gì?
Điểm nghẽn nằm ở việc xác định chủ sở hữu khối tài sản chung tích lũy không phân chia. Khối tài sản ban đầu vài tỷ đồng tăng lên hàng trăm tỷ đồng qua học phí của sinh viên, dẫn tới bất đồng gay gắt giữa nhóm sáng lập ban đầu, ban giám hiệu và các nhà đầu tư mới góp vốn.
Câu hỏi 4: Đề xuất tuyển sinh đa tiêu chí mang lại lợi ích gì cho các cơ sở giáo dục đại học tư thục?
Tuyển sinh đa tiêu chí giúp các trường tự chủ đánh giá năng lực người học qua 5 thành phần gồm điểm thi, học bạ và phỏng vấn. Phương thức này phá vỡ thế phụ thuộc vào một kỳ thi duy nhất, giúp các trường chọn lọc sinh viên phù hợp và cải thiện tỷ lệ nhập học vượt mức 80%.
Câu hỏi 5: Khung 8 tiêu chí của OECD hỗ trợ đánh giá chính sách giáo dục đại học như thế nào?
Bộ tiêu chí OECD cung cấp thước đo chuẩn mực quốc tế để rà soát toàn diện văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá mức độ tương thích thị trường, tính minh bạch, chi phí tuân thủ và khả năng khuyến khích đổi mới, chỉ ra nguyên nhân chính sách quản lý nhà nước chưa đạt hiệu quả mong đợi.
Kết luận
- Luận văn làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về 10 năm phát triển của hệ thống đại học ngoài công lập với tốc độ tăng trưởng quy mô 357% nhưng đi kèm sự suy giảm chất lượng và khủng hoảng nguồn lực giảng viên.
- Nghiên cứu chứng minh sự can thiệp của Nhà nước là tất yếu do tồn tại các thất bại thị trường và ngoại tác giáo dục, nhưng các công cụ chính sách áp dụng giai đoạn vừa qua còn mang nặng tính hành chính áp đặt.
- Công trình chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của sự đình trệ chuyển đổi loại hình sở hữu là do sự thiếu vắng khung pháp lý phân định rạch ròi giữa mô hình đại học tư thục vì lợi nhuận và mô hình phi lợi nhuận.
- Hệ thống giải pháp kiến nghị mang tính đột phá gồm trao quyền tự chủ tuyển sinh đa tiêu chí, cổ phần hóa minh bạch tài sản tích lũy chung và chuẩn hóa 10 tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo.
- Đóng góp khoa học lớn nhất của đề tài là việc ứng dụng thành công khung 8 tiêu chí OECD để giải mã những bất cập chính sách công trong giáo dục đại học tại Việt Nam.
Lộ trình cải cách cần được các cơ quan quản lý và các trường đại học tư thục triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2014-2016 nhằm tái thiết lập niềm tin xã hội, ổn định thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh cho giáo dục nước nhà. Các nhà quản lý giáo dục và lãnh đạo nhà trường hãy chủ động nghiên cứu, áp dụng các khuyến nghị từ luận văn để xây dựng mô hình đại học tự chủ, minh bạch và phát triển bền vững.