Đặt vấn đề Hiện nay, môi trường đang là vấn đề bức xúc, cấp bách và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã gây ra những tác động đáng kể đến môi trường sống của con người và sinh vật trên Trái Đất. Trong những năm gần đây môi trường đã bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng, những hiện tượng lạ đã xảy ra như hiện tượng enino, hiệu ứng nhà kính, hay biến đổi khí hậu toàn cầu … và người ta đã chứng minh được đó là hậu quả của việc môi trường bị suy thoái và xuống cấp. Song song với việc phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta cũng luôn luôn quan tâm, chú trọng tới việc bảo vệ môi trường (BVMT).
Nhà nước đã ban hành và có những hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện luật bảo vệ môi trường, trong kì họp khóa VIII Bộ Chính trị đã ra chỉ thị số 36/CT – TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Công tác bảo vệ môi trường ở nước ta cũng đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng hoàn thiện. Các cấp các nghành và nhân dân đã có bước đầu nhận thức về BVMT. Tuy nhiên trong những thập kỉ gần đây, do sự bùng nổ dân số , quá trình đô thị hóa, phát triển các khu dân cư, khu công nghiệp được đẩy mạnh.
Trong khi đó công tác quản lí, BVMT thì lại lỏng lẻo, chưa cứng rắn dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường không những giảm mà còn có xu hướng gia tăng, có những nơi, nững lúc đã đến mức báo động: Đất đai bị xói mòn, thoái hóa, chất lượng nguồn nước suy giảm mạnh, không khí ở các đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và trên tuyến đường giao thông ngàng càng ô nhiễm trầm n 2 trọng, khối lượng khí thải độc hại phát sinh ngày càng lớn, tài nguyên thiên nhiên khai thác không hợp lý và quá mức, đa dạng sinh học ngày càng giảm… Vậy, trong thực tế, công tác quản lí nhà nước về môi trường ở các cấp, các ngành, các địa phương đã được quan tâm đúng mức chưa? Chúng ta đã và đang và sẽ quản lí, bảo vệ môi trường sống của chính mình như thế nào? Những biện pháp đó có mang lại hiệu quả hay không?. Để góp phần giải đáp cho những câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về môi trường tại huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2013” dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Nguyễn Đức Thạnh – Trưởng phòng thanh tra khảo thí & Đảm bảo chất lượng giáo dục, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên. Mục đích Tìm hiểu công tác quản lí nhà nước về môi trường tại cấp huyện, phát hiện những mặt tích cực đã đạt được và những mặt hạn chế trong công tác quản lí và BVMT của huyện, từ đó giúp các nhà quản lí có sự điều chỉnh phù hợp, đưa ra các biện pháp, quy định quản lí thích hợp hơn. Mục tiêu - Tìm hiểu thực trạng công tác quản lí nhà nước về môi trường ở huyện Lộc Bình.
- Tìm hiểu các hoạt động BVMT như: tuyên truyền, giáo dục ý thức, BVMT cho người dân sinh sống ở trên địa bàn huyện, việc tìm hiểu cam kết BVMT của người dân, việc xử phạt vi phạm môi trường… - Giúp cộng đồng dân cư nhận thức đúng đắn về môi trường sống và khuyến khích họ có ý thức tự quản lý môi trường sống của chính mình. - Đề xuất các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm nâng cao công tác quản lí nhà nước về môi trường tại địa phương. Yêu cầu - Các số liệu thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy chính xác, đầy đủ và chi tiết. Ý nghĩa - Đưa ra thực trạng công tác quản lí nhà nước về môi trường tại cấp huyện trong thực tế … So sánh đối chiếu với kiến thức đã được trang bị trong nhà trường từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân trong thực tiễn.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở của công tác quản lí môi trƣờng * Khái niệm QLMT: “QLMT là một hoạt động trong lĩnh vực quản lí xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kĩ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lí tài nguyên” [8]. * Cơ sở triết học - xã hội Sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của các cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng Khoa học và Công nghệ cùng với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỉ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội của loài người và môi trường tự nhiên. Để có được các công cụ hiệu quả hơn trong quản lí môi trường chúng ta phải có cách nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, hiểu được bản chất, diễn biến các mối quan hệ đó trong quá trình lịch sử.
Ba nguyên lý cơ bản để xét mỗi quan hệ giữa con người với con người, xã hội và tự nhiên đó là: + Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa “Tự nhiên – Con người – Xã hội”.
Sự n 5 hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội”. + Sự phụ thuộc của mối quan hệ con người và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội. Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình lịch sự phát triển lâu dài và phức tạp. Con người xuất hiện trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên.
Con người và loài người ngày một phát triển thì các tác động của con người và xã hội loài người tới tự nhiên ngày càng gia tăng. Ngược lại, sự phát triển của xã hội loài người không tách rời khỏi giới tự nhiên và mối quan hệ của con người với xã hội loài người. Tự nhiên và xã hội vừa thống nhất vừa phụ thuộc lẫn nhau. Sự phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ cơ thể con người là một phần của tự nhiên, con người và xã hội loài người là những tác nhân có tác động mạnh mẽ tới tự nhiên.
+ Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên: sự phát triển của xã hội loài người ngày nay đang hướng tới các mục tiêu cơ bản là phồn thịnh về kinh tế , bình đẳng và công bằng về hưởng thụ vật chất và môi trường trong sạch, duy trì và phát triển các di sản văn hóa của nhân loại. Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành điều khiển có ý thức quan hệ giữ xã hội và tự nhiên [8]. * Cơ sở khoa học – kỹ thuật – công nghệ của quản lý môi trường Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển nghành Khoa học môi trường.
n 6 Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo. Trong đó có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường, kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.
Về lý thuyết, tiềm lực kỹ thuật và công nghệ của loài người trong giai đoạn hiện nay cho phép xử lý phần lớn các dạng ô nhiễm phát sinh từ hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, bản thân các dạng ô nhiễm môi trường tự nhiên luôn là một cỗ máy xử lý khổng lồ và hoạt động liên tục, kể cả khi chưa xuất hiện loài người. Do vậy cần phải có phương thức quản lý tối ưu dựa trên các khả năng của môi trường tự nhiên và các hoạt động sản xuất của con người. Sự phát triển các ứng dụng thông tin dự báo môi trường: GIS, mô hình hóa, quy hoạch môi trường, đánh giá tác động môi trường, kiểm toán môi trường.
Các ứng dụng trên không nằm trong một hệ thống các nghành khoa học và công nghệ đã có mà liên quan tới nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội khác. Tóm lại, quản lý môi trường, cầu nối giữa Khoa học môi trường với hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đã được phát triển trên nền phát triển của các bộ môn chuyên ngành [8]. *Cơ sở luật pháp Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường.