Đặt vấn đề Trong cuộc cách mạng công nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu thúc đẩy phát triển nền kinh tế con người đã tác động quá mức đến môi trường sinh thái. Chính vì vậy, môi trường sống của con người cũng như các dạng sống khác trên trái đất đang bị đe dọa nghiêm trọng. Hằng năm, trên thế giới đều phải gánh chịu hàng loạt những thảm họa, thiên tai gây thiệt hại lớn đến đời sống, kinh tế, xã hội. Mà nguyên nhân lớn chính là vấn đề biến đổi khí hậu do ô nhiễm môi trường bởi các hoạt động của con người.
Chính vì lẽ đó, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách của toàn nhân loại [5]. Thực hiện luật bảo vệ môi trường năm 2014, công tác BVMT ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống thể chế chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường từng bước xây dựng và kiện toàn. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường được thành lập, phát triển và hoàn thiện từ trung ương tới địa phương.
Chợ Mới là một huyện miền núi, nằm ở cửa ngõ phía nam của tỉnh Bắc Kạn, có đường QL3 đi qua nối với TX Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và các địa phương khác trong vùng nên hệ thống giao thông dễ dàng giúp cho điều kiện về kinh tế - xã hội của huyện những năm qua có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội luôn kéo theo các vấn đề về gia tăng ô nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường đất, nước, không khí và đa dạng sinh học, gây tác động trực tiếp đến cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, nếu không quan tâm đến BVMT thì hậu quả sẽ rất đáng lo ngại. Hiện nay, công tác quản lý môi trường ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cũng như huyện Chợ Mới nói riêng đang được đẩy mạnh một cách nhanh chóng và hoàn thiện hơn.
Mục tiêu là giúp các cơ quan chức năng có những giải pháp, chính sách quản lý hợp lý nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu đến mức thấp nhất các vấn đề ô nhiễm môi trường, suy giảm môi trường, sự cố môi n 2 trường. nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho nhân dân, hướng tới sự PTBV trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn. Xuất phát từ thực tế nêu trên và được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường tại huyện Chợ Mới - Tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2014” dưới sự hướng dẫn của cô giáo PGS. Đỗ Thị Lan - Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường giai đoạn 2012 - 2014 tại khu vực nghiên cứu. - Hiểu biết của người dân về BVMT tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về môi trường tại khu vực nghiên cứu.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đầy đủ, chính xác về thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường huyện Chợ Mới. - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. - Những kiến nghị đưa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương. - Mẫu câu hỏi phỏng vấn phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu.
- Các kết quả cần phải tổng hợp và phân tích. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào rèn luyện về kỹ năng điều tra, tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. n 3 - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác BVMT sau này. - Rèn luyện kĩ năng thực tế, rút ra kinh nghiệm để làm quen với môi trường làm việc sau này.
Đồng thời tạo lập thói quen làm việc độc lập. - Kết quả của đề tài là nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường huyện Chợ Mới cũng như đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về môi trường. * Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý của chính quyền địa phương về môi trường. - Tạo cơ sở nhằm đề xuất được các biện pháp quản lý nhà nước về môi trường một cách hợp lý và hiệu quả.
- Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm môi trƣờng và quản lý môi trƣờng 2. Khái niệm môi trường “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [1].
Khái niệm quản lý môi trường "Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia" [8]. Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường: - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. - Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. - Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ [11].
Cơ sở khoa học của công tác quản lý môi trƣờng 2. Cơ sở triết học của quản lý môi trường Sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng khoa học và công nghệ cùng với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỷ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội loài người và môi trường tự nhiên. Để có được các công cụ hiệu quả hơn trong quản lý môi trường, chúng ta phải có cách nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, hiểu được bản chất, diễn biến các mối quan hệ đó trong quá trình n 5 lịch sử. Ba nguyên lý cơ bản để xét mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên đó là: - Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên - con người - xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò quan trọng.
- Sự phụ thuộc của mối quan hệ con người và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội. Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp, con người xuất hiện trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên. - Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, sự phát triển của xã hội loài người ngày nay đang hướng tới mục tiêu cơ bản là phồn thịnh về kinh tế, bình đẳng và công bằng về hưởng thụ vật chất và môi trường trong sạch, duy trì và phát triển di sản văn hóa của nhân loại. Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành điều khiển có ý thức quan hệ giữa xã hội và tự nhiên [11].
Cơ sở khoa học - kĩ thuật - công nghệ của quản lý môi trường - Việc hình thành các Bộ môn khác nhau của khoa học môi trường, công nghệ môi trường, thông tin môi trường, kỹ thuật môi trường. Do vậy, quản lý môi trường với tư cách là một lĩnh vực khoa học ứng dụng có chức năng phân tích, đánh giá và áp dụng các thành tựu của khoa học, công nghệ, quản lý xã hội để giải quyết tổng thể các vấn đề môi trường do phát triển đặt ra. Hoạt động của loài người đang gây ra các tác động vượt khả năng chịu tải của Trái đất, và để duy trì cuộc sống của loài người, cần phải sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống trên Trái đất. Sự hình thành các công cụ tính toán, phương pháp khoa học riêng để đánh giá chất lượng môi trường, đánh giá tài nguyên thiên, tiêu chuẩn môi trường,.
cho phép con người có thể đánh giá, dự báo và kiểm soát các tác động tiêu cực của phát triển đến môi trường. Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật, máy móc xử lý, đo đạc, đánh giá các thông số môi trường trong giai đoạn hiện nay. Nhưng do nhiều nguyên nhân, giá thành của kỹ thuật và thiết bị liên tục thay đổi. n 6 Sự phát triển các ứng dụng thông tin dự báo môi trường: GIS, mô hình hóa, quy hoạch môi trường, đáng giá tác động môi trường, kiểm toán môi trường [4], [11].
Tất cả những nhận xét trên đây cho phép kết luận rằng: Ngày nay có đủ điều kiện để xem quản lý môi trường là một chuyên ngành khoa học môi trường, có chức năng quản lý tổng hợp các hoạt động phát triển của con người, đảm bảo duy trì và bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người cùng các sinh vật trên Trái đất, hiện tại cũng như tương lai. Cơ sở pháp lý của quản lý môi trường Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường gồm các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường. Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. - Luật BVMT số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014 - Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008 - Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH ngày 25/11/2009 - Chỉ thị số 26-CT-TTg ngày 25/08/2014 Về việc triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2014 - Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/08/2014 của Chính phủ Về thoát nước và xử lý nước thải - Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ Quy định quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.