Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi Quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất, là địa bàn để phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng. Vì vậy đất đai có vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của mọi sinh vật trên Trái Đất. Nhận thấy được tầm quan trọng của đất đai, Nhà nước ta đã sớm ra các văn bản pháp luật quy định quản lý và sử dụng đất đai như: Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về việc thi hành luật đất đai năm 2003, Nghị định 188/CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai được ban hành ngày 29 tháng 10 năm 2004, Thông tư 29 về hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính ngày 01 tháng 11 năm 2004,… Hiện nay do sức ép về dân số mỗi ngày một tăng mà đất đai chỉ có một giới hạn nhất định do đó đòi hỏi con người phải biết sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm quỹ đất hiện có. Ngoài ra để nhằm hợp lý việc khai thác tiềm năng đất đai một cách khoa học và có hiệu quả cao nhất về kinh tế xã hội và môi trường.
Đồng thời nâng cao tình thần trách nhiệm của mỗi công dân và các tổ chức trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Để làm được điều đó ngày nay chúng ta đang tìm mọi cách để quản lý và sử dụng đất đai một cách chặt chẽ và hợp lý. Để giải quyết được các vấn đề về đất đai ngoài việc triển khai thực hiện tích cực các văn bản pháp luật của Nhà nước nói chung và của ngành địa chính nói riêng, thì chúng ta cũng phải tăng cường điều tra rà soát tình hình quản lý và sử dụng đất, đánh giá những mặt làm được và chưa làm được từ Trung ương đến địa phương nhằm tìm ra những giải pháp để việc quản lý và sử dụng đất được tiến hành hợp lý, sát thực và chính xác hơn. Việc đánh giá đúng hiện trạng quản lý, sử dụng đất và tiềm năng đất đai là một vấn đề rất quan trọng trong công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Xã Mai Pha nằm ở cửa ngõ phía Nam thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn. Với tổng diện tích tự nhiên là 1.354 ha, xã Mai Pha có điều kiện địa lý n 2 đất đai thuận lợi để phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Với những lợi thế đó Đảng ủy, chính quyền địa phương đã bám sát sự chỉ đạo của cấp trên đồng thời triển khai đưa Nghị quyết của Đảng vào triển khai và đạt được kết quả khả quan. Nhờ đó, đời sống vật chất, tinh thần của người dân từng bước được cải thiện.
Với sự phát triển mọi mặt như vậy đã gây áp lực lớn cho việc quản lý và sử dụng đất ở địa phương. Trong điều kiện đất đai có hạn mà sự gia tăng dân số ngày càng nhiều, nhu cầu về vật chất, văn hóa tinh thần, sinh hoạt ngày càng cao. Do đó để quản lý, sử dụng triệt để và có hiệu quả nguồn tài nguyên này. Đòi hỏi phải quản lý và sử dụng đất một cách chặt chẽ, chính xác và hợp lý.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của khoa Quản lý Tài Nguyên, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo TS. Vũ Thị Thanh Thủy. Em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại xã Mai Pha - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2011 - 2013” với mục đích đánh giá tình hình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai tại xã Mai Pha-thành phố Lạng Sơn-tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2013. Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai xã Mai Pha - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013 từ đó đề xuất giải pháp để quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn.
Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại xã Mai Pha. - Đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của địa phương. - Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của Luật đất đai 2003, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của Trung ương và địa phương.
- Nắm vững thực trạng quản lý Nhà nước về đất đại tại địa phương. Các số liệu điều tra thu thập được phải đảm bảo tính trung thực, khách quan. n 3 - Những kiến nghị đề xuất với các cấp có thẩm quyền phải phù hợp với thực tế của địa phương và phù hợp với luật pháp do Nhà nước quy định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Tổng hợp, vận dụng và củng cố những kiến thức đã học, học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế.
Qua đó giúp sinh viên có một hành trang vững chắc khi ra trường. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước về đất đai của xã Mai Pha từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã được tốt hơn. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Những hiểu biết chung về công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Khái niệm quản lý Nhà nước về đất đai. Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Vai trò của công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Công tác quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội loài người và có những đặc trưng riêng, đất đai được Nhà nước thống nhất quản lý nhằm: - Đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Thông qua chiến lược sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước điều tiết để các chủ sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đề ra. - Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đại tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc đảm bảo lợi ích chính đáng của người sử dụng đất đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất. - Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nước nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất.
Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm. - Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những chính sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp và góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống. Đối tượng của quản lý đất đai. Đối tượng của quản lý đất đai là vốn đất của nhà nước (toàn bộ trong phạm vi ranh giới quốc gia từ biên giới tới hải đảo, vùng trời, vùng biển) đến từng chủ sử dụng đất.
Chỉ giao cho các đơn vị cá nhân khác nhau để sử dụng đất, trong điều 5 Luật đất đai 2003 ghi: “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Nhà nước cũng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất. Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất từ người khác trong luật này gọi chung là người sử dụng đất.
Được quy định ở điều 9 Luật đất đai 2003. Mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai. * Mục đích: - Bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của Nhà nước.
- Tăng cường hiệu quả sử dụng đất. - Bảo vệ cải tạo đất, bảo vệ môi trường.[5] * Yêu cầu: - Phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính. Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai.