PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngân sách Nhà nước (NSNN) được coi là huyết mạch của nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững, thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng và an ninh, là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế. Chi NSNN là một bộ phận quan trọng cấu thành cán cân ngân sách của mỗi quốc gia. Chi NSNN không chỉ nuôi dưỡng bộ máy hành chính Nhà nước hoạt động mà còn có tác dụng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Chính vì vậy, quản lý chi NSNN sao cho tiết kiệm, hiệu quả là vấn đề được đặt lên hàng đầu ở mỗi quốc gia. Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sau 30 năm đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển, cả nước đang bước vào thời kỳ đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động cả về kinh tế và chính trị, Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, việc hợp tác tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hàng loạt vấn đề về quản lý các nguồn lực được đặt ra, trong đó vấn đề quản lý tài chính công, sử dụng NSNN như thế nào để đáp ứng tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) của đất nước trong thời kỳ mới đang thực sự là một yêu cầu cấp thiết.
Là một bộ phận cấu thành của NSNN, Ngân sách chi cho hoạt động đơn vị tỉnh có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho chính quyền cấp tỉnh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý KT - XH, quốc phòng - an ninh tại địa phương. Những năm qua, công tác quản lý, điều hành chi NSNN tại Văn phòng cơ quan lãng đạo tỉnh đã có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển KT - XH của tỉnh nhà. Hoạt động quản lý chi ngân sách đã góp phần phát huy được thế mạnh của đơn vị quản lý. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý chi NSNN Văn phòng cơ quan lãng đạo tỉnh vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như chi thường xuyên thường vượt dự toán, các quy định về thực hành tiết kiệm chống lãng phí chưa được chấp hành nghiêm túc gây lãng phí NSNN; việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối 6 Luan van với các đơn vị hành chính sự nghiệp chưa thực sự phát huy hiệu quả; trình độ, năng lực của cán bộ làm công tác tài chính còn yếu.
Vì vậy, việc quản lý chi NSNN như thế nào để đảm bảo đạt được hiệu quả cao nhất, triệt để tiết kiệm, khắc phục tình trạng chi vượt dự toán, chi không đúng thẩm quyền, sai quy định của luật NSNN đang là vấn đề được Đảng và chính quyền địa phương hết sức coi trọng và quan tâm nhằm mục tiêu đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển trong thời kỳ đổi mới. Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Đánh giá công tác quản lý chi thƣờng xuyên tại Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang” để thực hiện luận văn thạc sĩ với mong muốn góp một phần nhỏ vào quá trình giải quyết những tồn tại và từng bước nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN tại đơn vị. Các công trình nghiên cứu liên quan 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Việc nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, NSNN ở nước ngoài trong những năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và các cá nhân có liên quan đến đề tài như: Wolfgang Streeck and Daniel Mertens (2013), đề tài “Fiscal Austerity and Public Investment”, đề tài đề cập đến cơ cấu chi đầu tư công trong điều kiện ngân sách hạn chế, thắt chặt tài chính và đầu tư công đã chứng minh thực tiễn đầu tư công của ba nước: Mỹ, Đức và Thụy Điển từ năm 1981 đến năm 2007, đầu tư của ba nước này có xu hướng tăng đầu tư công cho phần mềm tăng đó là đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ cho gia đình, chính sách của thị trường lao động.
Trong nghiên cứu này các tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư vào phần mềm, trong điều kiện tài chính bị hạn chế thì nên thực hiện đầu tư công như thế nào để đạt hiệu quả cao, hạn chế nợ công và thâm hụt NSNN. Benedict Clements, Rina Bhattacharya, Toan Quoc Nguyen (2013), bài phân tích “External Debt, Public Investment, and Growth in Low - Income Countrie” - nợ nước ngoài, đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở các nước có thu nhập thấp. Trong nghiên cứu này tác giả đã tổng quan các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đưa ra các 7 Luan van mô hình tăng trưởng, mô hình đầu tư công từ đó định lượng và phân tích các tác động qua chứng minh thực tế từ các nước có thu nhập thấp. Era Bible - Norris, Kim Brumby, Annette Kyobe, Zac Mills, and Chris Papageorgiou - IMF (2014), bài viết “Investing in Puclic Investment, An Index of Public Investment Efficiency”, đề tài khảo sát đầu cư công, một chỉ tiêu của hiệu quả đầu tư công đã đề xuất một chỉ số mới bao quát toàn bộ quá trình quản lý đầu tư công qua bốn giai đoạn khác nhau: thẩm định dự án, lựa chọn dự án, thực hiện đầu tư, và đánh giá đầu tư.
Khảo sát được tiến hành gồm 71 nước, trong đó có 40 nước có thu nhập thấp, 31 nước có thu nhập trung bình, chỉ số này cho phép đánh giá, so sánh các khu vực, các quốc gia có chính sách tương tự với nhau, đặc biệt là những nơi mà nỗ lực cải cách trong đầu tư công được ưu tiên. Tuy nhiên, nghiên cứu này cho phép ứng dụng khảo sát và đánh giá trên phạm vi quốc gia, trong phạm vi đầu tư công ở địa phương thì không đủ điều kiện để ứng dụng toàn bộ (chỉ ứng dụng được một số nội dung). Nhìn chung, các nghiên cứu ngoài nước gần như đã trang bị toàn bộ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích và đánh giá quản lý chi NSNN, và các giải pháp nhằm quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản hiệu quả. Tuy nhiên, việc ứng dụng để đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp quản lý chi NSNN ở Việt Nam hoặc ở từng địa phương ở Việt Nam thì cần phải vận dụng linh hoạt và có những điều kiện nhất định.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Việc nghiên cứu quản lý chi NSNN ở nước ta trong những năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và địa phương như: - Vũ Ngọc Tuấn, Đàm Văn Huệ (2014) với đề tài “Nhìn lại nguyên tắc ngân sách thường niên theo quan niệm cổ điển và việc tuân thủ nguyên tắc trong quản lý ngân sách tại Việt Nam”, bài viết chỉ ra nguyên tắc ngân sách thường niên là một trong 4 nguyên tắc cơ bản về ngân sách theo quan niệm cổ điển. Sự xuất hiện và phát triển của nguyên tắc ngân sách thường niên đồng hành với sự phát triển của dân chủ, đáp ứng yêu cầu minh bạch, hiệu quả trong chỉ tiêu ngân sách của Chính phủ từ phía người và được thừa nhận tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, nguyên tắc ngân sách thường niên đã được thể chế hóa trong Luật NSNN, song chưa được tuân thủ đầy đủ, thể hiện thông qua các quy định về ứng trước dự toán ngân sách và chuyển nguồn 8 Luan van ngân sách. Bởi vậy, nghiên cứu này được thực hiện để làm rõ các nội dung và nguyên tắc, phân tích việc thực hiện nguyên tắc tại Việt Nam gắn với quy định về ứng trước dự toán ngân sách, chuyển nguồn ngân sách và đề ra giải pháp để hoàn thiện các quy định này trong thời gian tới.
- Nguyễn Thị Hoa (2015) với đề tài “Tăng cường quản lý và sử dụng NSNN có hiệu quả trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, đề tài cũng xây dựng được mô hình khung lý thuyết về quản lý thu, chi NSNN cấp huyện gồm các nội dung chủ yếu: lập dự toán thu, chi ngân sách, chấp hành dự toán thu, chi ngân sách, kiểm toán thu, chi ngân sách. Nêu sơ bộ về tình hình kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Phân tích thực trạng quản lý thu chi NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn theo các nội dung: lập dự toán thu, chi ngân sách, chấp hành dự toán thu, chi ngân sách, kiểm soát dự toán thu, chi ngân sách. Từ thực trạng quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn, tác giả đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn.
Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chủ yếu đi sâu vào đánh giá thực trạng thu, chi ngân sách cấp huyện tại thị xã Từ Sơn mà chưa đưa ra giải pháp tối ưu về hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại thị xã Từ Sơn. - Huỳnh Thị Cẩm Liên (2016) trong đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” cũng đã xây dựng được mô hình khung lý thuyết về quản lý NSNN cấp huyện gồm các nội dung chủ yếu: lập dự toán ngân sách, chấp hành dự toán ngân sách, kiểm soát thu, chi ngân sách, quyết toán thu, chi ngân sách. Nêu sơ bộ về tình hình KT - XH huyện Đức Phổ. Phân tích thực trạng quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại huyện Đức Phổ theo các nội dung: lập dự toán thu, chi ngân sách, chấp hành dự toán thu, chi ngân sách, kiểm soát dự toán thu, chi ngân sách.
Từ thực trạng quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại huyện Đức Phổ, tác giả đã đưa ra giải pháp để hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại huyện Đức Phổ.