Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải y tế đang là một trong những thách thức môi trường và xã hội cấp bách hàng đầu tại Việt Nam trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê ngành môi trường, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên toàn quốc đạt hơn 490 tấn mỗi ngày, trong đó có khoảng 60 đến 70 tấn thuộc nhóm chất thải nguy hại tiềm ẩn nguy cơ truyền nhiễm cao. Tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc với địa hình đa dạng bao gồm cả đất liền, hải đảo và miền núi, hiện có 14 Trung tâm Y tế cấp huyện phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của hàng trăm nghìn người dân. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng mở rộng kéo theo định mức phát thải nước thải y tế đạt trung bình 0,6 m3 mỗi giường bệnh trong một ngày đêm, tạo sức ép lớn lên hệ thống thu gom và xử lý cục bộ.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn và nước thải y tế tại 14 Trung tâm Y tế quy mô cấp huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh. Đề tài được triển khai thu thập dữ liệu và quan trắc thực địa trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích đặc tính lý hóa, vi sinh của các dòng thải, định lượng mức độ tuân thủ quy chuẩn quản lý môi trường tại từng cơ sở và đề xuất mô hình phân tầng thích ứng với quy mô hoạt động từ dưới 100 giường đến trên 200 giường bệnh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn rõ nét khi thiết lập định mức phát thải chất thải rắn cụ thể từ 0,5 đến 34 kg/ngày/đơn vị, đồng thời đưa ra các chỉ số kỹ thuật làm căn cứ để 100% cơ sở y tế tuyến huyện chuẩn hóa xả thải đạt quy chuẩn môi trường quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết quản lý chất thải y tế tích hợp (Integrated Healthcare Waste Management) kết hợp với mô hình phân tích dòng vật chất (Material Flow Analysis) nhằm theo dõi và kiểm soát toàn bộ chu trình phát sinh, lưu giữ, vận chuyển đến xử lý cuối cùng. Hệ thống phân loại chất thải bám sát các tiêu chuẩn pháp lý tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT và Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các khái niệm nền tảng trong khung lý thuyết gồm:

Thứ nhất, chất thải lây nhiễm (bao gồm chất thải sắc nhọn, không sắc nhọn, nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu) được thu gom trong bao bì và thùng chứa màu vàng có thành dày tối thiểu 0,1 mm để ngăn ngừa đâm thủng hoặc rò rỉ dịch sinh học.

Thứ hai, chất thải nguy hại không lây nhiễm (chất hóa học, dược phẩm quá hạn, thiết bị hỏng chứa kim loại nặng như thủy ngân) được mã hóa bằng thùng chứa màu đen.

Thứ ba, chất thải y tế thông thường và chất thải tái chế phát sinh từ hoạt động sinh hoạt và hành chính, sử dụng bao bì màu xanh và màu trắng, trong đó thành phần có khả năng tái chế chiếm tỷ lệ trên 25% tổng lượng chất thải rắn y tế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 28:2010/BTNMT (Cột B) để làm hệ quy chiếu đánh giá chất lượng nước thải y tế trước và sau xử lý với các chỉ tiêu giới hạn nghiêm ngặt về chất hữu cơ và vi sinh vật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra toàn diện kết hợp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu N = 14 Trung tâm Y tế cấp huyện tại Quảng Ninh (đạt tỷ lệ bao phủ 100% các đơn vị y tế công lập tuyến huyện trên địa bàn). Cỡ mẫu được phân nhóm chi tiết: Nhóm 1 gồm 06 đơn vị có quy mô trên 200 giường bệnh (như Đông Triều, Quảng Yên, Móng Cái); Nhóm 2 gồm 05 đơn vị có quy mô từ 100 đến 200 giường bệnh (như Hải Hà, Đầm Hà, Cô Tô); Nhóm 3 gồm 03 đơn vị có quy mô dưới 100 giường bệnh (như Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả). Việc chọn mẫu toàn bộ 14 đơn vị giúp đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, phản ánh đầy đủ sự khác biệt về địa hình từ đô thị, nông thôn đến hải đảo.

Dữ liệu chất lượng nước thải được thu thập qua 14 mẫu đơn lấy tại vị trí trước và sau hệ thống xử lý trong điều kiện thời tiết nắng ráo, nhiệt độ môi trường 23°C. Phương pháp đo tại hiện trường tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 6492:2011 đối với pH và TCVN 7325:2005 đối với oxy hòa tan (DO). Các chỉ tiêu phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm BOD5 (TCVN 6001-1:2008), COD (SMEWW 5220B:2012), TSS (SMEWW 2540D:2012), Tổng Nitơ, Tổng Phốt pho và Coliform (TCVN 6187-2:1996). Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đảm bảo tính chuẩn xác, độ tin cậy cao và hoàn toàn tương thích với các quy định kỹ thuật của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Công tác quản lý chất thải rắn được lượng hóa qua bảng kiểm chuẩn gồm 24 tiêu chí với thang điểm tối đa 240 điểm. Toàn bộ số liệu được thống kê, xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích số liệu thực địa ghi nhận 4 phát hiện cốt lõi:

Một là, khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tỷ lệ thuận với số giường bệnh và loại hình hoạt động. Các đơn vị thuộc Nhóm 1 phát sinh từ 18 đến 34 kg/ngày (cao nhất tại Trung tâm Y tế thị xã Đông Triều với 34 kg/ngày trên 400 giường bệnh); Nhóm 2 phát sinh từ 2,5 đến 14 kg/ngày (thấp nhất tại huyện đảo Cô Tô đạt 2,5 kg/ngày); Nhóm 3 phát sinh lượng nhỏ từ 0,5 đến 3 kg/ngày.

Hai là, mức độ tuân thủ quy chuẩn quản lý chất thải rắn có sự chênh lệch rõ ràng. Nhóm 1 đạt điểm trung bình 222/240 điểm (tương đương 92,5% - mức Tốt). Nhóm 2 đạt 202/240 điểm (tương đương 84,16% - mức Khá). Nhóm 3 đạt 196/240 điểm (tương đương 81,6% - mức Khá).

Ba là, mô hình xử lý chất thải rắn ghi nhận 12 trên 14 trung tâm (tỷ lệ 85,7%) ký hợp đồng thu gom, vận chuyển và tiêu hủy với đơn vị dịch vụ chuyên nghiệp bên ngoài (Công ty Môi trường Xanh). Chỉ có 2 đơn vị là Trung tâm Y tế huyện Cô Tô và thị xã Đông Triều tự vận hành lò đốt tại chỗ do tính chất biệt lập địa lý hoặc quy mô tiếp nhận lớn.

Bốn là, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải y tế đầu vào trước xử lý vượt ngưỡng quy chuẩn ở mức báo động tại tất cả các nhóm. Hàm lượng BOD5 dao động từ 93 đến 168 mg/l, vượt từ 1,86 đến 3,36 lần so với giới hạn 50 mg/l của QCVN 28:2010/BTNMT. Hàm lượng COD dao động từ 148 đến 306 mg/l, vượt quy chuẩn từ 1,48 đến 3,06 lần (giới hạn 100 mg/l). Chỉ số vi sinh Coliform ghi nhận từ 6600 đến 9300 MPN/100ml, vượt quy chuẩn từ 1,32 đến 1,86 lần (giới hạn 5000 MPN/100ml).

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về kết quả quản lý giữa các nhóm phản ánh mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng và năng lực tài chính của từng cơ sở. Các đơn vị Nhóm 1 sở hữu kho lưu giữ đạt chuẩn với 100% cơ sở có nhà lạnh bảo quản chất thải dưới 48 giờ. Trong khi đó, tại Nhóm 2 và Nhóm 3, tiêu chí đường vận chuyển chất thải riêng biệt chỉ đạt 2/10 điểm do mặt bằng khuôn viên hạn chế, dẫn đến tình trạng xe đẩy rác phải lưu thông chung lối đi với bệnh nhân, tiềm ẩn rủi ro lây nhiễm chéo.

Khi mô tả dữ liệu qua biểu đồ cột so sánh nồng độ ô nhiễm trước và sau xử lý, các thông số BOD5, COD, TSS và Coliform đều thể hiện xu hướng giảm mạnh sau khi qua hệ thống lọc sinh học kết hợp khử trùng. Tuy nhiên, bảng ma trận đánh giá cho thấy công tác dán nhãn bao bì và buộc kín miệng túi tại các khoa phòng ngoại vi vẫn tồn tại sai sót. So sánh với các khảo sát tại một số bệnh viện lớn ở Hà Nội (nơi tỷ lệ túi đựng rác đúng quy cách màu sắc chỉ đạt khoảng 30,67%), các Trung tâm Y tế tại Quảng Ninh có tỷ lệ tuân thủ phân loại màu sắc vượt trội hơn đáng kể, đạt trên 80% yêu cầu chuyên môn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác bảo vệ môi trường y tế, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất triển khai:

Thứ nhất, nâng cấp hạ tầng phân loại và lưu chứa chất thải rắn y tế tại chỗ. Bố trí ngân sách cải tạo 100% khu lưu trữ tạm thời tại các cơ sở Nhóm 2 và Nhóm 3, thiết lập hành lang vận chuyển rác riêng biệt để loại bỏ hoàn toàn tình trạng phát tán mùi hôi (nâng điểm tiêu chí vận chuyển lên 10/10 điểm). Thời gian thực hiện trong 6 đến 12 tháng, do Ban giám đốc 14 Trung tâm Y tế chủ trì cùng Sở Y tế Quảng Ninh.

Thứ hai, tối ưu hóa công nghệ và bảo dưỡng định kỳ hệ thống xử lý nước thải y tế. Tiến hành bổ sung module xử lý sinh học giá thể cố định kết hợp công nghệ khử trùng bằng ozone hoặc màng vi lọc, đặt mục tiêu duy trì 100% mẫu nước thải sau xử lý có nồng độ BOD5 dưới 50 mg/l, COD dưới 100 mg/l và Coliform dưới 5000 MPN/100ml theo QCVN 28:2010/BTNMT. Thời gian hoàn thiện từ 12 đến 18 tháng, đơn vị thực hiện là Sở Y tế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.

Thứ ba, hoàn thiện mạng lưới thu gom chất thải nguy hại tập trung liên huyện cho khu vực hải đảo. Thiết kế tuyến vận chuyển đường thủy chuyên trách định kỳ 48 giờ/chuyến cho huyện Cô Tô và Vân Đồn, giúp tối ưu chi phí xử lý và giảm từ 15% đến 20% chi phí vận hành lò đốt đơn lẻ. Lộ trình thực hiện trong 6 tháng, do Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các doanh nghiệp môi trường đô thị.

Thứ tư, chuẩn hóa chương trình đào tạo nghiệp vụ và kiểm tra nội bộ. Tổ chức các khóa tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho 100% đội ngũ điều dưỡng và nhân viên thu gom rác, hướng tới mục tiêu trên 95% nhân sự đạt điểm hiểu biết tối đa về 9 tiêu chí mã màu bao bì. Trách nhiệm triển khai thuộc về Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của từng trung tâm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và cơ sở dữ liệu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Lãnh đạo và cán bộ phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện: Ứng dụng bộ công cụ bảng kiểm 240 điểm để rà soát toàn diện quy trình vận hành, phát hiện điểm nghẽn hạ tầng và nâng cao chỉ số tuân thủ nội bộ.

  2. Cán bộ quản lý môi trường tại Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường: Khai thác số liệu thực chứng về tải lượng ô nhiễm nước thải (BOD5 từ 93 đến 168 mg/l) để xây dựng định mức xả thải, phục vụ công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp phép xả thải.

  3. Doanh nghiệp cung ứng dịch vụ môi trường và xử lý chất thải nguy hại: Nắm bắt thông lượng phát sinh chất thải rắn (từ 0,5 đến 34 kg/ngày) và nước thải (từ 9 đến 240 m3/ngày) tại từng địa bàn huyện để lập phương án điều phối phương tiện thu gom tối ưu chi phí.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Y tế Công cộng: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp khảo sát toàn diện kết hợp đo đạc hóa lý phòng thí nghiệm và xây dựng mô hình quản lý chất thải phân tầng theo quy mô giường bệnh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh hàng ngày tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện Quảng Ninh là bao nhiêu?
    Lượng chất thải dao động từ 0,5 đến 34 kg/ngày tùy theo quy mô. Các trung tâm Nhóm 1 (trên 200 giường) phát sinh từ 18 đến 34 kg/ngày; Nhóm 2 (100-200 giường) phát sinh từ 2,5 đến 14 kg/ngày; Nhóm 3 (dưới 100 giường) phát sinh từ 0,5 đến 3 kg/ngày.

  2. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải y tế trước xử lý vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?
    Nước thải chưa qua xử lý bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh rất nặng. Chỉ số BOD5 đạt từ 93 đến 168 mg/l (vượt 1,86 đến 3,36 lần), COD đạt từ 148 đến 306 mg/l (vượt 1,48 đến 3,06 lần) và Coliform đạt từ 6600 đến 9300 MPN/100ml (vượt 1,32 đến 1,86 lần so với QCVN 28:2010/BTNMT Cột B).

  3. Đơn vị nào chịu trách nhiệm xử lý chính đối với chất thải rắn y tế tại tỉnh Quảng Ninh?
    Hiện có 12 trên 14 trung tâm y tế (chiếm tỷ lệ 85,7%) ký hợp đồng dịch vụ xử lý trọn gói với Công ty Môi trường Xanh. Duy nhất 2 cơ sở tại huyện Cô Tô và thị xã Đông Triều duy trì lò đốt tại chỗ do đặc thù vị trí địa lý.

  4. Tồn tại lớn nhất trong công tác vận chuyển chất thải tại các đơn vị Nhóm 2 và Nhóm 3 là gì?
    Hạn chế lớn nhất là thiếu hành lang vận chuyển chuyên biệt (chỉ đạt 2/10 điểm đánh giá), phương tiện thu gom rác phải di chuyển chung với lối đi của bệnh nhân, dễ gây mùi hôi và tăng nguy cơ lây nhiễm chéo.

  5. Quy định về 4 mã màu sắc phân loại chất thải y tế được thực hiện như thế nào?
    Quy chuẩn phân định rõ 4 màu: màu vàng chứa chất thải lây nhiễm, màu đen chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm, màu xanh chứa chất thải sinh hoạt thông thường và màu trắng chứa chất thải có thể tái chế.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải tại 14 Trung tâm Y tế cấp huyện tỉnh Quảng Ninh với khối lượng nước thải phát sinh từ 9 đến 240 m3/ngày mỗi cơ sở.
  • Định lượng mức độ tuân thủ quản lý chất thải rắn đạt 92,5% ở Nhóm 1, 84,16% ở Nhóm 2 và 81,6% ở Nhóm 3 theo thang điểm chuẩn 240.
  • Xác định mức độ ô nhiễm nước thải đầu vào với 100% mẫu phân tích có BOD5 (93-168 mg/l) và COD (148-306 mg/l) vượt ngưỡng kỹ thuật quốc gia.
  • Đề xuất hoàn chỉnh mô hình quản lý chất thải phân tầng theo 3 nhóm quy mô và thúc đẩy dịch vụ xã hội hóa thu gom tập trung cho 12/14 đơn vị.
  • Thiết lập lộ trình hành động từ 6 đến 18 tháng nhằm nâng cấp trạm xử lý nước thải và hoàn thiện hạ tầng kho lạnh lưu giữ chất thải lây nhiễm.

Công trình luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và khung giải pháp khoa học, đóng góp thiết thực vào chiến lược phát triển y tế xanh và bảo vệ môi trường bền vững tại tỉnh Quảng Ninh. Các đơn vị y tế cơ sở và cơ quan quản lý chuyên ngành cần sớm áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ và mô hình quản lý đề xuất để tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng.