Chương 1 trong Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn đã định nghĩa: “Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người”. Phân loại chất thải rắn 17 do an Theo Sở Tài nguyên và Môi Trường TP.HCM (2006) phân loại rác tại nguồn là quá trình tách riêng chất thải rắn sinh hoạt ra thành một số hoặc tất cả các thành phần của nó ngay tại nơi phát sinh và lưu giữ chúng một cách riêng biệt trước khi thu gom và trong suốt quá trình thu gom, vận chuyển chất thải đến nơi xử lý. Theo Nguyễn Văn Phước (2008) cho rằng: “Chất thải rắn có thể phân loại bằng nhiều cách khác nhau: - Phân loại dựa vào nguồn gốc phát sinh như: Rác thải sinh hoạt, văn phòng, thương mại, công nghiệp, đường phố, chất thải trong quá trình xây dựng hay đập phá nhà xưởng. - Phân loại dựa vào đặc tính tự nhiên như là các chất hữu cơ, vô cơ, chất có thể cháy và không có khả năng cháy.
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn bao gồm: - Khu dân cư. - Khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ,…). - Khu công trường xây dựng và phá huỷ các công trình xây dựng. - Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi giải trí,…).
- Nhà máy xử lý chất thải. - Khu công nghiệp.Thành phần chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt 1.Thành phần chất thải rắn Theo Nguyễn Văn Phước (2008) cho rằng: “Thành phần chất thải rắn là một thuật ngữ dùng để mô tả tính chất và nguồn gốc các yếu tố riêng biệt cấu thành nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm theo khối lượng. Theo Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất 18 do an thải rắn (tập 1), NXB Xây dựng, Hà Nội, Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm.; Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, phụ tùng xe máy hỏng., chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp.
thể hiện cụ thể qua Bảng 1. Thành phần của chất thải rắn Thành phần Định nghĩa Ví dụ 1. Các chất cháy được a. Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và Các túi giấy, mảnh bìa, giấy giấy vệ sinh b.
Hàng dệt Các nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon. Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi ngô. Cỏ, gỗ, củi, Các sản phẩm và vật liệu được Đồ dùng bằng gỗ như bàn, rơm rạ chế tạo từ tre, gỗ, rơm. ghế, đồ chơi, vỏ dừa.
Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được Phim cuộn, túi chất dẻo, chế tạo từ chất dẻo chai, lọ. Chất dẻo, đầu vòi, dây điện. Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được Bóng, giày, ví, băng cao chế tạo từ da và cao su su. Các chất không cháy 19 do an a.
Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm được Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, sắt dao, nắp lọ. chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút b. Các kim loại Các vật liệu không bị nam châm Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ phi sắt hút đựng. Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được Chai lọ, đồ đựng bằng thủy chế tạo từ thủy tinh tinh, bóng đèn.
Đá và sành sứ Bất cứ các vật liệu không cháy Vỏ chai, ốc, xương, gạch, ngoài kim loại và thủy tinh đá, gốm. Các chất hỗn Tất cả các vật liệu khác không Đá cuội, cát, đất, tóc. hợp phân loại trong bảng này. Loại này có thể chứa thành hai phần: kích thước lớn hơn 5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm (Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái (2001), Quản lý chất thải rắn (tập 1), NXB Xây dựng, Hà Nội) 1.
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt Thành phần chất thải rắn sinh hoạt do công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Thành phố (TP) Hồ Chí Minh tiến hành khảo sát tại khu vực như sau: Bảng 1. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh 20 do an STT Thành phần % khối lượng 1 Chất hữu cơ dễ phân hủy 62,24 2 Giấy các loại 0,59 3 Túi xách, que tre, giẻ rách 4,25 4 Nhựa, cao su 0,46 5 Vỏ sò, ốc 0,50 6 Thủy tinh 0,02 7 Đá sỏi, sành sứ 16,40 8 Kim loại 0,27 9 Tạp chất đường kính 10 mm trở xuống 15,27 Tổng cộng 100,00 (Nguồn: Nguyễn Văn Phước (2008), Quản lý và xử lý chất thải rắn) 21 do an 1. Tính chất chất thải rắn 1. Tính chất vật lý Thành phần vật lý chủ yếu của chất thải rắn bao gồm: rác thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, các loại gỗ, thuỷ tinh, gạch, rác vườn,… với % khối lượng giao động tuỳ thuộc tỷ lệ Tỷ trọng: Tỷ trọng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng và có đơn vị là kg/m3.
Đối với rác thải sinh hoạt, tỷ trọng thay đổi từ 120 – 590 kg/m3. Đối với xe vận chuyển rác có thiết bị ép rác, tỷ trọng rác có thể lên đến 830 kg/m3. Thành phần riêng biệt: Thành phần này thay đổi theo vị trí địa lý theo vùng dân cư, theo mức sống, thời gian trong ngày, trong mùa, trong năm theo loại mà ở đó giấy là nhiều nhất, sau đó đến thực phẩm, rác làm vườn, rác sinh hoạt,… Độ ẩm: Độ ẩm của rác cũng thay đổi theo từng loại thành phần và cũng thay đổi theo mùa. Những nước ở vùng nhiệt đới thì độ ẩm của rác rất cao, nhiều khi lên đến 80%.
Độ ẩm biến đổi nhiều, và cao nhất vẫn là rác thực phẩm, rác làm vườn, rác sinh hoạt thấp nhất là thủy tinh. Độ ẩm của chất thải rắn được biểu diễn theo một trong hai cách: Phương pháp khối lượng ướt và phương pháp khối lượng khô. - Phương pháp khối lượng ướt độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như là phần trăm khối lượng ướt của vật liệu. - Phương pháp khối lượng khô độ ẩm trong một mẫu được thể hiện như phần trăm khối lượng khô vật liệu.Tính chất hóa học Thành phần hóa học của rác bao gồm những chất dễ bay hơi khi đốt ở nhiệt độ 9200C, thành phần tro sau khi đốt và dễ nóng chảy.
Tại điểm nóng chảy thể tích của rác giảm 95%. Phân tích cuối cùng các thành phần chất thải chủ yếu xác định phần trăm (%) của các nguyên tố C, H, O, N, S, và tro. Trong suốt quá trình đốt chất thải rắn sẽ phát sinh các hợp chất Clor hoá nên phân tích cuối cùng thường bao gồm phân tích xác định các halogen. Kết quả phân tích cuối cùng được sử dụng để mô tả các thành phần hoá học của chất hữu cơ trong chất thải rắn.
Kết quả phân tích còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tỉ số C/N của chất thải có thích hợp cho quá trình chuyển hoá sinh học hay không. Thành phần hóa học của chất thải rắn Tính theo % trọng lượng khô Thành STT Lưu phần Carbon Hydro Oxy Nitơ Tro huỳnh 1 Thực phẩm 48,0 6,4 37,5 2,6 0,4 5,0 2 Giấy 3,5 6,0 44,0 0,3 0,2 6,0 3 Carton 4,4 5,9 44,6 0,3 0,2 5,0 4 Plastic 60,0 7,2 22,8 x X 10,0 5 Vải 55,0 6,6 31,2 4,6 0,15 2,45 6 Cao su 78,0 10,0 x 2,0 X 10,0 7 Da 60,0 8,0 11,6 10,0 0,4 10,0 Rác làm 8 47,8 6,0 42,7 3,4 0,1 4,5 vườn 11 do an 9 Gỗ 49,5 6,0 42,7 0,2 0,1 1,5 Bụi, tro, 10 26,3 3,0 2,0 0,5 0,2 68,0 gạch ( Theo Nguyễn Văn Phước (2008)) Trong rác có C, H, O, N, S trong đó thành phần C là cao nhất. Tùy theo mỗi loại rác mà thành phần của nó cũng thay đổi. Thành phần này được sử dụng để xác định nhiệt lượng của rác.
Tính chất sinh học Khả năng phân hủy sinh học của các thành phần chất hữu cơ 0 Hàm lượng chất rắn bay hơi (VS), xác định bằng cách nung ở nhiệt độ 550 C, thường được dùng để đánh giá khả năng phân hủy sinh học của chất hữu cơ trong CTR đô thị. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu VS để biểu diễn khả năng phân hủy sinh học của phần chất hữu cơ có trong CTR đô thị không chính xác vì một số thành phần chất hữu cơ rất dễ bay hơi nhưng rất khó bị phân hủy sinh học (Ví dụ giấy in báo và nhiều loại cây kiểng) (Nguyễn Văn Phước, 2008). Sự hình thành mùi Mùi hôi có thể phát sinh khi tồn trữ CTR trong thời gian dài giữa các khâu thu gom, trung chuyển và đổ ra bãi chôn lấp (BCL), nhất là ở những vùng khí hậu nóng, do khả năng phân hủy kỵ khí nhanh các chất hữu cơ dễ bị phân hủy có trong CTR đô thị (Nguyễn Văn Phước, 2008). Sự phát triển của ruồi Trong thời điểm mùa hè hay là trong khu vực khí hậu nóng ẩm, sự nhân giống và sinh sản của ruồi là vấn đề quan trọng cần quan tâm tại nơi lưu trữ chất thải rắn.
Ruồi có thể phát triển trong thời gian 2 tuần sau khi trứng được sinh ra. 12 do an Giai đoạn phát triển của ấu trùng trong các thùng chứa rác đóng vai trò rất quan trọng và chiếm khoảng 5 ngày trong sự phát triển của ruồi. Để hạn chế sự phát triển của ruồi thì các thùng lưu trữ rác nên đổ bỏ để thùng rỗng trong thời gian này để hạn chế sự di chuyển của các loại ấu trùng (Nguyễn Văn Phước, 2008). Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 1.
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng Một trong những dạng chất thải nguy hại được xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền.