Tổng quan nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn y tế là thách thức môi trường cấp bách tại các đô thị và trung tâm y tế trên cả nước. Theo ước tính từ Cục Quản lý môi trường y tế, hệ thống 13.511 cơ sở y tế toàn quốc phát sinh khoảng 450 tấn chất thải rắn mỗi ngày, trong đó có 47 tấn chất thải nguy hại tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Tại tỉnh Bắc Giang, hệ thống khám chữa bệnh với quy mô 3.530 giường bệnh tại 16 bệnh viện, 14 cơ sở dự phòng và 230 trạm y tế đã tạo ra lượng phát thải đáng kể. Báo cáo môi trường ghi nhận tổng lượng chất thải rắn y tế toàn tỉnh năm 2016 đạt 1958,21 tấn/năm, bao gồm 283,31 tấn rác thải lây nhiễm (chiếm 14,47%) và 13,9 tấn chất thải nguy hại không lây nhiễm (chiếm 0,71%).

Vấn đề cốt lõi đặt ra là tình trạng quá tải bệnh viện cùng sự thiếu đồng bộ về hạ tầng xử lý rác thải y tế tại địa phương. Chất thải y tế chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm như virus viêm gan B, viêm gan C, HIV và các hóa chất độc hại gây đột biến gen. Nhằm giải quyết thực trạng này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Thân Thị Thảo, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh, bao gồm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Y học cổ truyền và Bệnh viện Phục hồi chức năng.

Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi thời gian từ tháng 6/2016 đến tháng 10/2017. Kết quả điều tra xác định tổng khối lượng chất thải phát sinh tại 6 bệnh viện trọng điểm đạt 2488,4 kg/ngày. Đề tài mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi thiết lập hệ thống tiêu chí định lượng về dòng thải y tế địa phương, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý môi trường hoạch định chính sách, hướng tới mục tiêu thu gom đạt 100% và chuyển dịch công nghệ xử lý thân thiện với môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM) kết hợp với mô hình thứ bậc quản lý chất thải (Waste Hierarchy - 3R: Giảm thiểu, Tái sử dụng, Tái chế). Nghiên cứu tích hợp nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle) và nguyên tắc phòng ngừa rủi ro sinh học trong y tế để phân tích toàn diện chu trình dòng thải.

Nội dung nghiên cứu xoay quanh các khái niệm nền tảng:

  • Chất thải y tế nguy hại: Chất thải chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại vượt ngưỡng theo quy chuẩn QCVN 07:2009/BTNMT.
  • Chất thải lây nhiễm: Bao gồm chất thải sắc nhọn (kim tiêm, dao mổ), chất thải không sắc nhọn (bông băng dính máu), chất thải nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu.
  • Quản lý chất thải y tế: Quá trình khép kín gồm giảm thiểu, phân định, phân loại tại nguồn, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý tiêu hủy cuối cùng.
  • Công nghệ không đốt (Non-burn technology): Các giải pháp khử khuẩn nhiệt độ thấp như hấp tiệt trùng chân không, vi sóng nhằm thay thế phương pháp thiêu đốt truyền thống.

Khung pháp lý của nghiên cứu được xây dựng dựa trên Luật Bảo vệ Môi trường 2014, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại, Quyết định số 2038/QĐ-TTg phê duyệt đề án xử lý chất thải y tế quốc gia và các quy chuẩn kỹ thuật như QCVN 02:2012/BTNMT, QCVN 55:2013/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo quản lý chất thải y tế của Sở Y tế tỉnh Bắc Giang năm 2016, hồ sơ môi trường và sổ theo dõi phát sinh chất thải hàng ngày của 6 bệnh viện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua quan trắc hiện trường và điều tra xã hội học.
  • Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên. Cỡ mẫu phỏng vấn chuyên sâu bao gồm 6 cán bộ phụ trách khoa kiểm soát nhiễm khuẩn hoặc điều dưỡng trưởng (1 phiếu/bệnh viện), 4 cán bộ trực tiếp vận hành lò đốt rác tại 4 đơn vị có lò đốt, và 500 bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân điều trị nội trú từ 2 ngày trở lên (tương đương 30% số giường thực kê tại thời điểm khảo sát). Cụ thể: Bệnh viện Đa khoa tỉnh 210 phiếu, Bệnh viện Sản Nhi 90 phiếu, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi 65 phiếu, Bệnh viện Phục hồi chức năng 60 phiếu, Bệnh viện Tâm thần 45 phiếu và Bệnh viện Y học cổ truyền 30 phiếu.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả và đối sánh tiêu chuẩn thông qua phần mềm xử lý dữ liệu cho phép định lượng chính xác tải lượng xả thải theo giường bệnh, đối chiếu độ chênh lệch với các quy định pháp luật và đánh giá nhận thức cộng đồng một cách khách quan.
  • Thời gian nghiên cứu: Quá trình thu thập dữ liệu và khảo sát ngoại nghiệp diễn ra liên tục từ tháng 6/2016 đến tháng 10/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh Bắc Giang đã ghi nhận các kết quả cụ thể:

Thứ nhất, về tải lượng và cơ cấu chất thải: Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh đạt 2488,4 kg/ngày. Trên phạm vi toàn tỉnh, tổng lượng phát thải là 1958,21 tấn/năm, trong đó chất thải thông thường chiếm tỷ trọng lớn nhất với 84,62% (1661 tấn/năm), chất thải lây nhiễm chiếm 14,47% (283,31 tấn/năm), và chất thải nguy hại không lây nhiễm chiếm 0,71% (13,9 tấn/năm). Tỷ lệ phát sinh chất thải lây nhiễm tập trung chủ yếu ở khối bệnh viện điều trị (272 tấn/năm), trong khi khối y tế dự phòng chỉ phát sinh khoảng 0,3 tấn/năm.

Thứ hai, về công tác phân loại và thu gom tại nguồn: 100% cơ sở (6/6 bệnh viện) đã thành lập Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, bố trí bảng hướng dẫn phân loại tại các buồng bệnh. Tần suất thu gom rác được duy trì đều đặn từ 1-2 lần/ngày, đạt hiệu suất thu gom nội bộ 100%. Tuy nhiên, tỷ lệ bao bì chuyên dụng chưa đạt chuẩn đồng bộ; hiện tượng phân loại nhầm giữa chất thải sinh hoạt và chất thải lây nhiễm vẫn xuất hiện cục bộ với tỷ lệ ước tính khoảng 5% đến 10% tại một số khoa lâm sàng.

Thứ ba, về hạ tầng lưu giữ và công nghệ xử lý: Mặc dù cả 6 bệnh viện đều bố trí khu vực lưu giữ chất thải riêng biệt có mái che, nhưng 100% đơn vị chưa được trang bị kho lạnh bảo quản chất thải lây nhiễm theo đúng yêu cầu khi lưu trữ quá 48 giờ. Toàn hệ thống có 4 lò đốt phục vụ xử lý chất thải cho 6 bệnh viện. Tuy nhiên, các lò đốt này đều hoạt động theo phương thức đốt nhiệt, thiếu hệ thống lọc khí thải hoàn chỉnh, gây mùi khó chịu và gặp phải sự phản đối từ các hộ dân sinh sống xung quanh.

Thứ tư, về việc thực thi thủ tục pháp lý môi trường: Khảo sát trên toàn bộ 16 bệnh viện tuyến tỉnh và huyện tại Bắc Giang cho thấy 100% đơn vị đã lập kế hoạch quản lý chất thải y tế; 81,25% (13/16 đơn vị) có Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc Đề án bảo vệ môi trường được phê duyệt; 56,25% (9/16 đơn vị) có sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; và chỉ có 50% (8/16 đơn vị) được cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

Thảo luận kết quả

Suất phát thải chất thải rắn y tế tại các bệnh viện nghiên cứu có sự phân hóa rõ nét tùy thuộc vào tính chất chuyên khoa. Suất phát thải bình quân dao động từ 0,70 kg/giường/ngày đến 1,27 kg/giường/ngày tại các khoa trọng điểm như Hồi sức cấp cứu và Ngoại khoa. Chỉ số này tương đồng với mức trung bình của các bệnh viện tuyến tỉnh trong toàn quốc (khoảng 0,86 kg/giường/ngày), thấp hơn đáng kể so với các bệnh viện tuyến trung ương như Bệnh viện Chợ Rẫy (3,72 kg/giường/ngày) hay Bệnh viện Hữu nghị Việt - Tiệp Hải Phòng (1,75 kg/giường/ngày).

Sự thiếu đồng bộ trong cơ sở hạ tầng xử lý là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến nguy cơ ô nhiễm thứ cấp. Việc vận hành 4 lò đốt tại chỗ không có hệ thống xử lý khí thải đạt chuẩn QCVN 02:2012/BTNMT tiềm ẩn nguy cơ phát tán khí độc HCl, NOx và bụi mịn. Kết quả phân tích từ các nghiên cứu đối chứng cho thấy nồng độ khí thải từ lò đốt y tế chưa chuẩn hóa có thể vượt ngưỡng quy chuẩn từ 1,33 đến 10 lần, đồng thời tạo ra các hợp chất cực độc Dioxin và Furan. Xu hướng quốc tế tại các nước phát triển như Mỹ (giảm số lượng lò đốt rác y tế từ 2.373 lò năm 1995 xuống còn 33 lò năm 2013) và Canada (giảm từ 219 lò xuống còn 56 lò) đã chứng minh rằng việc thiêu đốt tại chỗ trong khuôn viên bệnh viện không còn phù hợp.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu chất thải và sự phân bố tải lượng giữa các bệnh viện có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ 3 nhóm chất thải rắn y tế toàn tỉnh (84,62% chất thải thông thường, 14,47% chất thải lây nhiễm, 0,71% chất thải nguy hại) và biểu đồ cột so sánh khối lượng xả thải hàng ngày giữa 6 bệnh viện tuyến tỉnh. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nóng phát thải để ưu tiên bố trí nguồn lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, luận văn đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Chuẩn hóa quy trình phân loại và thu gom tại nguồn: Bố trí đầy đủ 100% thùng chứa, túi rác màu vàng (chất thải lây nhiễm), màu đen (chất thải nguy hại không lây nhiễm), màu xanh (chất thải thông thường) và hộp kháng thủng đựng vật sắc nhọn theo đúng Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT. Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn tình trạng để lẫn rác thải, đảm bảo tỷ lệ phân loại chính xác đạt trên 98% trong giai đoạn 2018-2020. Chủ thể thực hiện là Ban Giám đốc và Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của từng bệnh viện.
  • Chuyển đổi công nghệ xử lý sang mô hình cụm tập trung: Đóng cửa dần 4 lò đốt rác thủ công hiện hữu; thay thế bằng mô hình xử lý chất thải y tế lây nhiễm tập trung cho cả 6 bệnh viện bằng công nghệ nồi hấp nhiệt ướt chân không kết hợp máy nghiền cắt đạt chuẩn QCVN 55:2013/BTNMT. Công suất thiết kế dự kiến từ 3 đến 5 tấn/ngày, giảm 100% phát thải Dioxin/Furan ra môi trường không khí. Lộ trình triển khai từ năm 2018 đến 2022 do Sở Y tế chủ trì phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang.
  • Nâng cấp hạ tầng lưu giữ đạt chuẩn: Xây dựng mới hoặc cải tạo nhà lưu giữ chất thải tại 6 bệnh viện, lắp đặt hệ thống phòng lạnh bảo quản chất thải lây nhiễm ở nhiệt độ dưới 8 độ C đối với các trường hợp lưu trữ vượt quá 48 giờ. Thời gian hoàn thành trong vòng 12 tháng từ khi phê duyệt dự án, do các bệnh viện làm chủ đầu tư.
  • Tăng cường năng lực quản trị và hoàn thiện thủ tục pháp lý: Tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về an toàn vệ sinh lao động và quản lý chất thải cho 100% nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh và vận hành xử lý rác. Đồng thời, hoàn thiện hồ sơ cấp sổ chủ nguồn thải và giấy phép xả nước thải cho 100% bệnh viện còn lại trước năm 2020 dưới sự giám sát của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bắc Giang.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao và là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về y tế và môi trường (Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc): Sử dụng làm tài liệu căn cứ để xây dựng quy hoạch mạng lưới thu gom, ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi mô hình xử lý chất thải theo cụm cơ sở y tế.
  • Ban lãnh đạo và cán bộ chuyên trách kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện: Vận dụng bộ tiêu chí đánh giá và quy trình kỹ thuật để rà soát, tái thiết lập quy trình phân loại nội bộ, lựa chọn trang thiết bị lưu trữ và bảo hộ lao động đạt chuẩn.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Y tế Công cộng: Tham khảo khung phương pháp luận điều tra thực địa kết hợp điều tra xã hội học, cấu trúc phiếu khảo sát và phương pháp xử lý dữ liệu phát thải bệnh viện.
  • Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và công nghệ môi trường: Khảo sát thông số dòng thải và điều kiện thực tế của các bệnh viện cấp tỉnh để đề xuất thiết kế công nghệ hấp sấy, khử khuẩn không đốt phù hợp với điều kiện kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn nghiên cứu cụ thể tại những bệnh viện nào trên địa bàn tỉnh Bắc Giang?

Nghiên cứu khảo sát chuyên sâu tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh gồm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Y học cổ truyền và Bệnh viện Phục hồi chức năng, đồng thời tổng hợp số liệu hiện trạng của 16 bệnh viện trên toàn tỉnh.

Tổng khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các bệnh viện nghiên cứu là bao nhiêu?

Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh đạt 2488,4 kg/ngày. Xét trên quy mô toàn tỉnh Bắc Giang năm 2016, tổng lượng phát thải là 1958,21 tấn/năm, trong đó chất thải y tế lây nhiễm chiếm 283,31 tấn/năm (tương đương 14,47%).

Hiện trạng công nghệ xử lý chất thải lây nhiễm tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh có điểm gì bất cập?

Toàn bộ 6 bệnh viện sử dụng chung 4 lò đốt rác tại chỗ. Hầu hết các lò đốt này sử dụng công nghệ cũ, thiếu hệ thống xử lý khí thải đạt chuẩn, phát sinh nguy cơ ô nhiễm không khí và gặp phải sự phản đối từ người dân xung quanh khu vực bệnh viện.

Luận văn đề xuất công nghệ gì để thay thế các lò đốt rác y tế hiện tại?

Tác giả đề xuất xây dựng mô hình xử lý tập trung cho toàn bộ 6 bệnh viện bằng công nghệ hấp nhiệt ướt chân không cải tiến kết hợp máy nghiền cắt chất thải theo quy chuẩn QCVN 55:2013/BTNMT, giúp khử trùng triệt để mà không phát sinh khí thải độc hại.

Hạn chế lớn nhất trong khâu phân loại và lưu giữ rác y tế tại các cơ sở khảo sát là gì?

Hạn chế lớn nhất là chưa có kho lạnh chuyên dụng để bảo quản chất thải lây nhiễm khi lưu giữ trên 48 giờ, đồng thời vẫn tồn tại hiện tượng để lẫn khoảng 5% đến 10% rác sinh hoạt vào rác lây nhiễm do thiếu hụt thùng chứa đạt chuẩn.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa chính xác tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại 6 bệnh viện tuyến tỉnh Bắc Giang với tổng khối lượng 2488,4 kg/ngày và 1958,21 tấn/năm trên phạm vi toàn tỉnh.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý dòng thải theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, chỉ ra các khoảng trống lớn trong khâu bảo quản lạnh và công nghệ xử lý tiêu hủy.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc loại bỏ 4 lò đốt thủ công gây ô nhiễm để chuyển dịch sang công nghệ hấp tiệt trùng kết hợp nghiền cắt không phát thải khí độc.
  • Cung cấp bộ giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy chế, đào tạo nhân lực đến đầu tư hạ tầng xử lý chất thải theo cụm giai đoạn 2018-2022.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế tỉnh Bắc Giang theo hướng bền vững.

Các cơ quan quản lý và các đơn vị y tế cần sớm áp dụng các đề xuất trong nghiên cứu để chuẩn hóa hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường sinh thái.