Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công trình Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang được khởi công xây dựng từ năm 2003 theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ, đặt trên dòng sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Dự án có nhiệm vụ cung cấp điện năng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tham gia cắt lũ trong mùa mưa và cung cấp nước tưới tiêu trong mùa khô cho vùng hạ du. Quá trình thi công công trình đòi hỏi phải giải tỏa lòng hồ và di dời một lượng lớn cư dân bản địa, trong đó có cộng đồng đồng bào dân tộc Dao tại các thôn Thôm Công và Nà Ráo.

Năm 2004, các hộ dân tộc Dao thuộc diện giải tỏa đã di chuyển đến tái định cư tại xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Việc chuyển đổi không gian sinh sống từ vùng núi cao lòng hồ sang địa bàn mới đặt ra nhiều biến động sâu sắc về tư liệu sản xuất, sinh kế, tập quán canh tác cũng như tổ chức đời sống xã hội. Sau 9 năm định cư (2004 - 2013), việc đánh giá toàn diện bức tranh kinh tế - xã hội của cộng đồng này là yêu cầu cấp thiết nhằm nhận diện những kết quả đạt được, làm rõ các tồn tại, khó khăn và cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách ổn định đời sống người dân.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 3 nhiệm vụ chính:

  1. Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân tái định cư tại xã Khuôn Hà.
  2. Phân tích những thuận lợi và khó khăn tác động đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng tại nơi ở mới.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân tộc Dao sau di dân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân Dự án thủy điện Tuyên Quang.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang (tập trung tại 5 thôn có đồng bào Dao tái định cư: Hợp Thành, Ka Nò, Nà Thom, Nà Chang, Nà Muông).
  • Phạm vi thời gian: Phân tích số liệu thống kê giai đoạn 2011 - 2013 của xã Khuôn Hà; số liệu điều tra hộ gia đình thu thập phục vụ nghiên cứu năm 2013; thời gian thực tập và thực hiện đề tài từ ngày 22/01/2014 đến 30/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng các khái niệm và khung lý thuyết về phát triển nông thôn và biến đổi xã hội:

  • Cơ sở lý luận: Vận dụng khái niệm về nông thôn, nông dân, kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và phát triển bền vững (theo định nghĩa của Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất năm 1992). Đồng thời, tác giả quán triệt quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2020.
  • Lý thuyết chuyên ngành: Sử dụng khái niệm di dân và di dân tái định cư bắt buộc (thuộc các chương trình/dự án do Nhà nước quản lý và cấp kinh phí); ứng dụng lý thuyết biến đổi xã hội dựa trên nguyên lý phát triển duy vật biện chứng để phân tích những thay đổi về điều kiện sống, cơ cấu sản xuất và tập quán sinh hoạt của cộng đồng người Dao khi thay đổi không gian cư trú.
  • Căn cứ pháp lý: Quyết định số 288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; các tiêu chí phân loại hộ nghèo, cận nghèo, trung bình, khá áp dụng cho khu vực nông thôn giai đoạn 2011 - 2015.

Phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê, tài liệu lưu trữ của UBND xã Khuôn Hà và các phòng ban chuyên môn liên quan giai đoạn 2011 - 2013, các công trình nghiên cứu đã công bố.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA). Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng từ tổng thể 151 hộ dân tộc Dao tại 5 thôn tái định cư, với tỷ lệ mẫu 30% (tương ứng 45 hộ). Cơ cấu mẫu phân bổ theo phân loại thu nhập gồm: 23 hộ nghèo (51,66%), 9 hộ cận nghèo (19,21%), 9 hộ trung bình (19,86%) và 4 hộ khá (9,27%).

Phương pháp xử lý và phân tích:

  • Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu, tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu thống kê mô tả.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của cộng đồng thời điểm trước di dân (năm 2003) với sau di dân (năm 2013); so sánh tương quan kết quả sản xuất, thu nhập giữa các nhóm hộ (khá, trung bình, cận nghèo, nghèo).
  • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Nhận diện điểm mạnh, điểm yếu nội tại kết hợp cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài tác động đến sự phát triển của cộng đồng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Nội dung phần này xác lập tính cấp thiết của việc nghiên cứu đời sống cộng đồng dân tộc Dao sau 9 năm chuyển về tái định cư tại xã Khuôn Hà. Tác giả chỉ rõ việc di dời phục vụ công trình Thủy điện Tuyên Quang là chủ trương lớn, song quá trình thích ứng sinh kế của người dân tại nơi ở mới cần được đánh giá khách quan để có giải pháp hỗ trợ kịp thời. Phần mở đầu cũng xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể, hệ thống yêu cầu khoa học về tính trung thực của số liệu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống lý luận về phát triển kinh tế nông thôn, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ), các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nông thôn. Tác giả trình bày khung lý thuyết về di dân tái định cư bắt buộc và lý thuyết biến đổi xã hội. Đồng thời, chương tổng quan điểm qua bức tranh kinh tế thế giới (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc) và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2013, đặc biệt là các vấn đề việc làm, chuyển dịch lao động, y tế cơ sở và an sinh xã hội nông thôn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian tại 5 thôn thuộc xã Khuôn Hà, phạm vi thời gian thu thập dữ liệu (2011 - 2013) và thời gian khảo sát thực địa (tháng 01/2014 đến tháng 05/2014). Phương pháp chọn mẫu phân tầng 45 hộ trên tổng số 151 hộ người Dao được trình bày cụ thể theo bảng phân bổ số lượng mẫu điều tra qua các thôn Hợp Thành, Ka Nò, Nà Thom, Nà Muông, Nà Chang. Các phương pháp thu thập sơ cấp, thứ cấp, PRA, RRA, SWOT và kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng Excel được xác lập tường minh.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả nghiên cứu qua các phương diện:

  1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Khuôn Hà: Xã có tổng diện tích tự nhiên 14.545,33 ha, địa hình núi đá vôi hiểm trở, diện tích đất lâm nghiệp chiếm phần lớn (trên 84% diện tích tự nhiên). Năm 2013, toàn xã có 778 hộ với 3.602 nhân khẩu (dân tộc Tày chiếm 73,3%, dân tộc Dao chiếm 21,7% với 782 người). Lao động trong độ tuổi là 2.172 người (60,3%), trong đó 89% có nghề nhưng chủ yếu thuần nông; tỷ lệ lao động chưa có việc làm là 11%. Tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 37.507,1 triệu đồng (2011) lên 46.402,8 triệu đồng (2013), giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt 13,84 triệu đồng/năm.
Chỉ tiêu kinh tế xã Khuôn Hà Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tổng giá trị sản xuất (triệu đồng) 37.507,10 41.670,40 46.402,80
- Nông - lâm - thủy sản (triệu đồng) 33.565,30 36.980,00 40.835,30
- Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp (triệu đồng) 1.844,80 2.120,40 2.470,00
- Dịch vụ (triệu đồng) 2.097,00 2.570,00 3.097,50
GTSX bình quân/khẩu (triệu đồng/người) 11,05 11,86 13,84
  1. Thực trạng cộng đồng người Dao trước di dân (năm 2003): Tại nơi ở cũ vùng lòng hồ (118 hộ), tư liệu sản xuất của người dân khá dồi dào về diện tích: bình quân 1 hộ sở hữu 8.700 m² đất nông nghiệp (gồm 1.200 m² đất lúa 1 vụ, 1.600 m² đất lúa 2 vụ, 4.900 m² đất màu, 800 m² đất vườn, 200 m² đất cây lâu năm). Tuy nhiên, phương thức canh tác hoàn toàn thủ công, phụ thuộc tự nhiên. Thu nhập bình quân chỉ đạt 7,2 triệu đồng/hộ/năm (tương đương 1,2 triệu đồng/người/năm), trong đó nông nghiệp chiếm 90% (trồng trọt chiếm 80%, chăn nuôi chiếm 20%). Về mặt xã hội, 33,33% trẻ em không được đến trường; 0% hộ đi khám sức khỏe định kỳ (khi ốm có 35,56% tự khỏi, 40% tự mua thuốc, 17,77% cúng bái hoặc dùng thuốc dân gian, chỉ 6,67% đến trạm xá/bệnh viện); có 16/45 hộ có hiện tượng tảo hôn; 31/45 hộ không thường xuyên tham gia hoạt động xã hội.

  2. Thực trạng cộng đồng người Dao sau di dân (năm 2013): Tại nơi tái định cư, 100% hộ được cấp 360 m² đất ở, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp mạnh, chỉ đạt bình quân 447 m²/khẩu (quy đổi về đất 2 vụ lúa). Dù vậy, người dân đã tiếp cận kỹ thuật mới, đưa giống mới và máy móc vào sản xuất. Kết quả điều tra 45 hộ năm 2013 cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm hộ:

Nhóm hộ điều tra Tổng GTSX (Tr.đ/hộ) Cơ cấu Nông nghiệp (%) Cơ cấu TTCN (%) Cơ cấu Dịch vụ (%) GTSXBQ/khẩu (Tr.đ/người)
Hộ khá 116,73 89,30 4,71 5,99 25,94
Hộ trung bình 78,89 93,80 4,09 2,11 16,90
Hộ cận nghèo 54,45 93,60 3,13 3,27 11,95
Hộ nghèo 45,85 94,24 3,27 2,48 9,86

Trong cơ cấu kinh tế nội ngành nông nghiệp sau di dân, ngành chăn nuôi vươn lên chiếm tỷ trọng áp đảo (hộ khá chiếm 76,71%, hộ trung bình 71,08%, hộ cận nghèo 59,8%, hộ nghèo 52,86%), trong khi trồng trọt chỉ chiếm từ 23,29% đến 47,14%. Cơ cấu đàn trâu thể hiện rõ năng lực tích lũy: hộ khá sở hữu bình quân 3,75 con trâu/hộ, cao gấp 1,68 lần hộ trung bình (2,22 con), gấp 3,02 lần hộ cận nghèo (1,22 con) và gấp 4,21 lần hộ nghèo (0,89 con).

  1. Phân tích thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp: Tác giả phân tích các mặt thuận lợi (hạ tầng giao thông, điện lưới, trường trạm được đầu tư, cơ hội tiếp cận khuyến nông) và khó khăn (thiếu đất sản xuất trầm trọng, thiếu bãi chăn thả, nguồn nước khô hạn trong mùa đông, tỷ lệ hộ nghèo cao chiếm 51,66%). Từ đó, đề xuất 6 nhóm giải pháp: cơ chế chính sách hỗ trợ vốn; đầu tư bổ sung quỹ đất sản xuất và giao khoán đất rừng; phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ chuyển đổi nghề phi nông nghiệp; kiên cố hóa hạ tầng kênh mương, nước sạch; giải pháp kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa (làn điệu Páo Dung, lễ cấp sắc), đẩy lùi tệ nạn và tảo hôn.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Chương tổng kết các phát hiện then chốt về sự chuyển biến đời sống của đồng bào Dao sau 9 năm di dân, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương tái định cư nhưng nhấn mạnh các vấn đề tồn tại về đất đai và việc làm. Tác giả đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với UBND tỉnh Tuyên Quang, UBND huyện Lâm Bình và chính quyền xã Khuôn Hà nhằm tiếp tục rà soát bổ sung đất sản xuất, mở các lớp dạy nghề và hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khái quát biến động tư liệu sản xuất và sinh kế: Khóa luận chỉ ra nghịch lý sinh kế sau di dân: diện tích đất sản xuất nông nghiệp của đồng bào Dao sụt giảm nghiêm trọng từ 8.700 m²/hộ ở nơi ở cũ xuống còn 447 m²/khẩu (tính quy đổi) tại nơi ở mới. Tuy nhiên, nhờ áp dụng thâm canh, cơ giới hóa và chuyển dịch trọng tâm sang chăn nuôi gia súc (chiếm từ 52,86% đến 76,71% giá trị sản xuất nông nghiệp), giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2013 của nhóm hộ nghèo đạt 9,86 triệu đồng/người và nhóm hộ khá đạt 25,94 triệu đồng/người, cao hơn nhiều so với mức thu nhập 1,2 triệu đồng/người/năm thời điểm năm 2003.
  • Ghi nhận sự tiến bộ về các chỉ tiêu xã hội: Tỷ lệ trẻ em đến trường tăng lên so với mức 66,67% trước đây; điều kiện ở được cải thiện (100% hộ có 360 m² đất ở); việc tiếp cận dịch vụ y tế, thông tin khoa học kỹ thuật và khuyến nông tại xã Khuôn Hà thuận tiện hơn hẳn vùng lòng hồ cũ.
  • Chỉ rõ sự phân hóa giàu nghèo và nguy cơ tái nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng người Dao tại xã Khuôn Hà năm 2013 vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn (51,66%), hộ cận nghèo chiếm 19,21%, trong khi hộ khá chỉ chiếm 9,27%. Sự hạn chế về đất sản xuất và thiếu hụt việc làm phi nông nghiệp (thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ của các nhóm hộ chỉ dao động từ 5,75% đến 10,7%) là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển bền vững.

Đóng góp của đề tài:

  • Cung cấp bộ số liệu thực chứng chi tiết, có tính phân tầng kinh tế chuẩn xác về tình hình sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt và thu nhập của cộng đồng người Dao tái định cư sau gần một thập kỷ di dời.
  • Phản ánh trung thực tiếng nói của người dân bản địa thông qua các phỏng vấn sâu và khảo sát PRA/RRA, làm rõ những khó khăn thực tế về nước tưới, đất chăn thả và việc làm.
  • Hệ thống hóa các đề xuất giải pháp mang tính đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số di dân lòng hồ thủy điện, đặc biệt là kiến nghị giao bổ sung đất rừng sản xuất và đào tạo nghề chuyển đổi sinh kế phi nông nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi khảo sát thực địa của đề tài tập trung trong quy mô 45 hộ thuộc 5 thôn của xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình, chưa thể so sánh đối chứng với các cộng đồng dân tộc khác cùng di dời hoặc các điểm tái định cư khác thuộc Dự án Thủy điện Tuyên Quang. Thời gian nghiên cứu giới hạn trong đợt thực tập tốt nghiệp (đầu năm 2014) nên việc thu thập chuỗi dữ liệu lịch sử trước di dân (năm 2003) chủ yếu dựa vào phương pháp hồi tưởng qua phỏng vấn và các báo cáo tổng hợp cũ.
  • Hướng mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát đa chiều trên toàn bộ các điểm tái định cư của Thủy điện Tuyên Quang tại các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn; thực hiện các nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn sau 15 - 20 năm di dân; nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi văn hóa, thiết chế dòng họ và các mô hình sinh kế phi nông nghiệp bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng tái định cư.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực tế hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học nông thôn, Quản lý tài nguyên và Quản lý công: Tham khảo phương pháp thiết kế mẫu phân tầng điều tra hộ nông dân, kỹ thuật ứng dụng PRA/RRA và phương pháp xử lý số liệu khảo sát kinh tế hộ bằng bảng tính Excel.
  • Người thực hiện đề tài nghiên cứu về tái định cư: Cung cấp khung phân tích thực tế về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội so sánh trước và sau khi thực hiện các dự án hạ tầng lớn (thủy điện, thủy lợi, giao thông).
  • Cán bộ quản lý địa phương và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu thực tế tại xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình để xây dựng các chương trình mục tiêu giảm nghèo, phân bổ đất lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi và bảo tồn bản sắc văn hóa cho đồng bào dân tộc Dao.

Câu hỏi thường gặp

1. Cộng đồng dân tộc Dao di dân từ những thôn nào về xã Khuôn Hà và diện tích đất ở được cấp là bao nhiêu? Đồng bào dân tộc Dao di dời từ thôn Thôm Công và thôn Nà Ráo thuộc vùng lòng hồ Thủy điện Tuyên Quang về định cư tại 5 thôn của xã Khuôn Hà (Hợp Thành, Ka Nò, Nà Thom, Nà Chang, Nà Muông) từ năm 2004. Khi đến nơi ở mới, 100% hộ gia đình được cấp 360 m² đất ở/hộ để dựng nhà.

2. Quy mô diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ dân tộc Dao thay đổi như thế nào giữa trước và sau di dân? Trước di dân (năm 2003), bình quân 1 hộ người Dao sở hữu 8.700 m² đất nông nghiệp (gồm 1.200 m² đất lúa 1 vụ, 1.600 m² đất lúa 2 vụ, 4.900 m² đất màu, 800 m² đất vườn và 200 m² đất cây lâu năm). Sau di dân (năm 2013), quỹ đất sản xuất bị thu hẹp đáng kể, chỉ còn đạt bình quân 447 m²/khẩu (tính quy đổi về đất lúa 2 vụ theo tỷ lệ: 400 m² đất 2 vụ lúa = 700 m² đất 1 vụ lúa = 1.000 m² đất màu).

3. Cơ cấu thu nhập nông nghiệp của các hộ người Dao sau di dân có đặc điểm gì nổi bật? Sau di dân, chăn nuôi trở thành nguồn thu chính, chiếm tỷ trọng vượt trội so với trồng trọt trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của các nhóm hộ: hộ khá thu từ chăn nuôi chiếm 76,71% (79,95 triệu đồng/hộ), hộ trung bình chiếm 71,08% (52,6 triệu đồng/hộ), hộ cận nghèo chiếm 59,8% (30,48 triệu đồng/hộ) và hộ nghèo chiếm 52,86% (22,84 triệu đồng/hộ).

4. Khảo sát 45 hộ năm 2013 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng dân tộc Dao là bao nhiêu? Trong tổng số 45 hộ được điều tra phân tầng theo tiêu chí thu nhập nông thôn giai đoạn 2011 - 2015, có tới 23 hộ nghèo (chiếm 51,66%), 9 hộ cận nghèo (chiếm 19,21%), 9 hộ trung bình (chiếm 19,86%) và chỉ có 4 hộ khá (chiếm 9,27%).

5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng? Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: (1) Cơ chế chính sách ưu đãi tín dụng; (2) Đầu tư bổ sung quỹ đất sản xuất nông nghiệp và giao khoán đất rừng sản xuất; (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và y tế; (4) Đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển đổi nghề phi nông nghiệp; (5) Đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, nước sạch; (6) Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bảo tồn văn hóa dân tộc và ngăn chặn tảo hôn.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Chẩu Thị Chang đã phản ánh toàn diện và khách quan bức tranh kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Khuôn Hà sau 9 năm tái định cư Dự án Thủy điện Tuyên Quang. Nghiên cứu chỉ ra sự cải thiện về điều kiện hạ tầng, năng lực áp dụng tiến bộ kỹ thuật và mức thu nhập bình quân, đồng thời làm rõ áp lực thiếu hụt tư liệu sản xuất và tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao (51,66%). Các kết quả phân tích số liệu và hệ thống giải pháp trong công trình có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý và định hướng phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số di dân tái định cư.