MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đem lại sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng nâng cao. Tuy nhiên, mức sống của người dân có chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn, vấn đề an sinh xã hội còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó xã hội tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực như tệ nạn xã hội, cờ bạc, ma túy mại dâm,… đặt ra những yêu cầu phát triển ổn định mọi mặt về kinh tế - xã hội đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định song kết quả đạt được vẫn còn ở mức khiêm tốn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao GDP năm 2013 tăng 5,42%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của 2012.
Khu vực dịch vụ tăng 6,56% cao hơn mức tăng 5,95% của năm 2012. Nước ta đi lên bằng sản xuất nông nghiệp là chủ đạo, nên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn. Cũng trong thời kì hiện nay khủng hoảng kinh tế dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao cả ở thành thị lẫn nông thôn, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhập siêu ở mức cao. Với tình trạng này sẽ dẫn tới hàng loạt vấn đề xã hội khác.
Để đương đầu với những khó khăn trong quá trình phát triển Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiếp tục thực hiện đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH đất nước đưa đất nước ta phát triển bền vững và toàn diện. Trong văn kiện hội nghị lần thứ V của BCHTW khóa IX chỉ rõ: “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại. Từ nay đến năm 2015 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện từng bước cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó” (Nguyễn Lân Dũng, 2008). n 2 Dự án đầu tư xây dựng công trình nhà máy thủy điện Tuyên Quang được khởi công xây dựng năm 2003 theo Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2003 của Thủ Tướng Chính phủ.
Công trình được xây dựng trên sông Gâm thuộc địa bàn huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang. Nhiệm vụ chính của dự án là cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ CNH, HĐH đất nước, đồng thời góp phần phòng chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước tưới cho sản xuất vào mùa khô vùng hạ du. Để hoàn thành công trình yêu cầu phải di dời số lượng lớn hộ dân sinh sống thuộc vùng lòng hồ và cộng đồng dân tộc Dao cũng thuộc diện đó. Năm 2004 cộng đồng dân tộc Dao di chuyển về tái định cư tại xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình.
Sau 9 năm sinh sống tại nơi ở mới đời sống kinh tế - xã hội của người Dao có sự thay đổi gì và trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gặp những thuận lợi và khó khăn ra sao. Xuất phát từ vấn đề đó, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân Dự án thủy điện Tuyên Quang” là cần thiết. Tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần giải quyết được những tồn tại trên và góp phần tạo ra bộ mặt mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao nói riêng và xã Khuôn Hà nói chung. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân.
- Phân tích thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân. - Đề xuất giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đúng thực trạng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân Dự án thủy điện Tuyên Quang. - Tài liệu, số liệu thu thập được phải chính xác, khách quan, trung thực.
- Giải pháp đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng địa phương. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa học tập và nghiên cứu - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nhiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu nhập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu.
* Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng dân tộc Dao sau di dân. - Đề xuất được giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong cộng đồng nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn * Khái niệm nông thôn Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu: Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. * Khái niệm nông dân Nông dân là người lao động cư trú ở nông thôn tham gia sản xuất nông nghiệp, sau đó đến các ngành, nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai tùy theo từng thời kỳ lịch sử ở từng nước, có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Những người này hình thành nên giai cấp nông dân.
* Kinh tế - xã hội KT - XH là một vấn đề rộng lớn, bao trùm mọi mặt trong hoạt động của một quốc gia nói chung và một tỉnh, một huyện, một đơn vị nói riêng. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học. Vì vậy xây dựng KT - XH phải dựa trên luận cứ khoa học của nhiều yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội và tuân theo những quy luật phát triển. Không những vậy, xây dựng và phát triển KT - XH phải dựa vào hoàn cảnh cụ thể, phù hợp đảm bảo cho kinh tế phát triển, tăng trưởng không ngừng và đồng đều, đảm bảo cho công bằng xã hội, giữ vững an ninh chính trị.
KT - XH là một phạm trù kinh tế bao gồm các vấn đề : kinh tế - văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Các vấn đề được nghiên cứu cụ thể là: Tình hình sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản, CN -TTCN, DV. Cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, …). Y tế giáo dục… Tất cả những vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau.
Chúng tác động thành mối liên hệ hai chiều. Mỗi vấn đề giữ một vị trí có tầm quan trọng riêng không thể thiếu. n 5 * Tăng trưởng và phát triển Tăng trưởng: Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự việc nhất định [3]. Phát triển: Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội (Raanan Weitz, 1995) [4].
* Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Do vậy, để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng kinh tế (toàn bộ hay bình quân theo đầu người) của kỳ sản xuất sau so với kỳ trước. Đó là mức tăng phần trăm (%) hay tuyệt đối của hàng năm, hay bình quân trong một giai đoạn.
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định, sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng. Đó là sự tăng trưởng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định. Trong đó có sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Ngoài sự khác nhau trong quan niệm của mỗi nước, thì định nghĩa ngắn gọn trên không phản ánh hết nội dung của sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, những vấn đề cơ bản nhất định của định nghĩa bao gồm: Sự phát triển bao gồm sự tăng thêm khối lượng của cải vật chất dịch vụ và tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất. Kết quả của sự tăng trưởng kinh tế - xã hội là kết quả của một quá trình vận động khách hàng, còn mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới kết quả đó [8].
n 6 * Phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và của cả loài người trong quá trình sống [16]. * Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH - HĐH Là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội [7]. Quá trình này đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn.