Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển nông nghiệp tại Việt Nam từ thập kỷ 60 đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX, hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) đã được sử dụng rộng rãi nhằm phòng trừ dịch hại cây trồng và phục vụ công tác y tế dự phòng. Do nhận thức về môi trường thời kỳ đó còn hạn chế cùng công tác quản lý thiếu chặt chẽ, nhiều điểm lưu giữ, kho chứa hóa chất sau khi giải thể hoặc thay đổi mục đích sử dụng đã để lại tồn dư độc hại. Tình trạng bao bì rách vỡ, rò rỉ hóa chất ngấm vào nền đất, nước mưa xói mòn rửa trôi hoặc việc chôn lấp tự phát khi một số hoạt chất bị cấm lưu hành đầu những năm 1990 đã gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất và nguồn nước xung quanh.

Các hóa chất tồn lưu chủ yếu thuộc nhóm hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POP) theo Công ước Stockholm, điển hình như DDT, Lindane, Endrin, Dieldrin. Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính đến tháng 6 năm 2015, trên phạm vi cả nước có 1.562 điểm tồn lưu hóa chất BVTV tại 46 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; căn cứ theo QCVN 54:2013/BTNMT, hàng trăm điểm đang ở mức độ rủi ro cao và rất cao. Xuất phát từ thực trạng ô nhiễm tại địa phương, đề tài tập trung khảo sát và đánh giá khu vực kho chứa hóa chất cũ của Hợp tác xã nông nghiệp Đức Chính, hiện thuộc khuôn viên quản lý của chùa Đoan Nghiêm, xã Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường đất tại khu đất thuộc quyền sở hữu của chùa Đoan Nghiêm, xã Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Xác định mức độ ô nhiễm và phạm vi lan tỏa ô nhiễm của hóa chất BVTV trong đất theo các hướng và tầng sâu.
  3. Tìm hiểu các phương pháp, quy trình công nghệ xử lý đất bị ô nhiễm do tồn dư hóa chất BVTV, từ đó đề xuất biện pháp xử lý phù hợp với điều kiện thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ và phạm vi ô nhiễm đất do tồn dư hóa chất BVTV tại trung tâm và vùng xung quanh nền kho chứa.
  • Phạm vi không gian: Khu đất kho chứa hóa chất BVTV tồn lưu của Hợp tác xã nông nghiệp Đức Chính tại thôn 1, xã Đức Chính (nay là phường Đức Chính), thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 11/02/2019 đến ngày 13/04/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài hệ thống hóa các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường đất, đặc tính và phân loại hóa chất BVTV theo gốc hóa học (Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Carbamat), theo công dụng phòng trừ, theo nhóm độc tính cấp tính ($LD_{50}$, $LC_{50}$) và độc tính mãn tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cũng như phân loại theo thời gian phân hủy trong môi trường. Đồng thời, đề tài tổng quan về chu trình phát tán, tích lũy sinh học của hóa chất BVTV trong hệ sinh thái đất, nước và chuỗi thức ăn của con người.

Khung pháp lý và kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13; Luật Xây dựng số 50/2014/QH13; Nghị định số 19/2015/NĐ-CP; Nghị định số 18/2015/NĐ-CP; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP; Nghị định số 46/2015/NĐ-CP; Thông tư số 26/2016/TT-BXD; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT; Thông tư số 02/2017/TT-BTC; Quyết định số 1752/QĐ-UBND ngày 21/5/2018 của UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt danh mục dự án bảo vệ môi trường năm 2018.
  • Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 54:2013/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng xử lý hóa chất BVTV hữu cơ khó phân hủy tồn lưu theo mục đích sử dụng đất); QCVN 09-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất); Thông tư 33/2011/TT-BTNMT (Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường đất); Thông tư 30/2011/TT-BTNMT (Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước dưới đất); TCVN 7538-2:2005 (Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu đất); TCVN 6000:1995 (Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm); Sổ tay hướng dẫn xử lý và phân tích số liệu quan trắc môi trường (Trung tâm Quan trắc Môi trường - Tổng cục Môi trường, 2015).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng, thủy văn, địa chất, địa mạo và hiện trạng kinh tế - xã hội của thị xã Đông Triều và xã Đức Chính.
  • Phương pháp lấy mẫu đất thực địa: Thực hiện ngày 15/02/2019 tại 5 vị trí (MD-01 tại tâm kho; MD-02, MD-03, MD-04, MD-05 cách tâm kho 4m lần lượt về các hướng Tây, Nam, Bắc, Đông) ở các độ sâu 0,5m; 1,0m; 2,0m; 3,0m (riêng MD-01 lấy thêm độ sâu 4,0m), thu được tổng cộng 21 mẫu đất.
  • Phương pháp lấy mẫu nước ngầm: Thực hiện ngày 17/02/2019 tại 4 giếng sinh hoạt của các hộ dân lân cận thôn 1 (hộ ông Nguyễn Văn Hồng - MN1, ông Trần Văn Nam - MN2, ông Đỗ Hữu Ban - MN3, ông Nguyễn Văn Bảy - MN4).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Chỉ tiêu DDT trong đất theo TCVN 6124:1996; trong nước theo TCVN 7876:2008.
    • Chỉ tiêu Lindane trong đất theo TCVN 6132:1996; trong nước theo TCVN 7876:2008.
    • Chỉ tiêu Wofatox (Parathion-methyl): Phân tích định lượng phòng thí nghiệm (tại thời điểm nghiên cứu chưa có TCVN chuyên biệt).
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: Đối chiếu kết quả phân tích với QCVN 54:2013/BTNMT (Nhóm 3: đất phi nông nghiệp/đất công trình) và QCVN 09-MT:2015/BTNMT để xác định ngưỡng ô nhiễm, khoanh vùng không gian và tính toán thể tích đất cần xử lý.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết xuất phát từ hiện trạng 1.562 điểm tồn lưu hóa chất BVTV trên toàn quốc và mức độ rủi ro sức khỏe cộng đồng tại khu vực kho chứa thuốc cũ thôn 1, xã Đức Chính. Khóa luận xác định rõ mục đích nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian - thời gian thực tập và nêu bật ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực địa cũng như ý nghĩa thực tiễn phục vụ quản lý môi trường tại địa phương.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp cơ sở khoa học về phân loại hóa chất BVTV theo cấu trúc hóa học (Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Carbamat), phân loại theo công dụng (5 nhóm chính), phân loại theo độc tính ($LD_{50}$, $LC_{50}$) và thời gian tồn lưu trong môi trường đất (Clo hữu cơ tồn lưu 2-5 năm; Triazine 1-2 năm; Phenoxy 1-5 tháng; Carbamate 1-8 tuần). Tác giả tổng hợp bức tranh sử dụng thuốc BVTV trên thế giới (tiêu thụ toàn cầu đạt 30 tỷ USD năm 2010; 6 nước trồng lúa châu Á tăng lượng sử dụng 200-300% nhưng năng suất không tăng) và tại Việt Nam (lượng thuốc thương phẩm tăng từ 6,5-9,0 ngàn tấn giai đoạn 1981-1986 lên 36-75,8 ngàn tấn giai đoạn 2001-2010; hơn 28.750 cửa hàng buôn bán thuốc năm 2010; tỷ lệ mẫu rau quả vượt ngưỡng cho phép 10-30%). Đồng thời, chương hệ thống hóa các tác hại đối với hệ sinh thái và con người (97,3% lây nhiễm qua đường tiêu hóa; 77,3% trường hợp ngộ độc do Wofatox, 14,7% do 666 và 8% do DDT).

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tọa độ, sơ đồ mạng lưới lấy mẫu đất (21 mẫu tại 5 vị trí theo 4 hướng la bàn ở các tầng sâu 50cm, 100cm, 200cm, 300cm, 400cm) và mẫu nước dưới đất (4 mẫu giếng hộ dân). Chương mô tả các tiêu chuẩn kỹ thuật lấy mẫu (TCVN 7538-2:2005, TCVN 6000:1995), quy chuẩn so sánh (QCVN 54:2013/BTNMT, QCVN 09-MT:2015/BTNMT) và các phương pháp phân tích sắc ký phòng thí nghiệm cho từng chỉ tiêu DDT, Lindane và Wofatox.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phân tích đặc điểm địa chất, khí hậu (nhiệt độ trung bình năm 23,8°C, lượng mưa 1.444 mm/năm) và kinh tế - xã hội thị xã Đông Triều (năm 2017: diện tích gieo trồng 11.345,7 ha, tổng sản lượng lương thực 51.904,7 tấn, giá trị sản xuất công nghiệp 3.787 tỷ đồng). Tiếp đó, tác giả đánh giá chi tiết số liệu thực nghiệm:

  • Ô nhiễm môi trường đất: 21/21 mẫu đều phát hiện có tồn dư DDT, Lindane và Wofatox. Trong đó, 14/21 mẫu (66%) vượt ngưỡng DDT và 15/21 mẫu (71%) vượt ngưỡng Lindane theo QCVN 54:2013/BTNMT. Nồng độ ô nhiễm cao nhất ghi nhận tại tâm kho (mẫu ĐC-01-50) với DDT đạt 11,34 mg/kg (vượt 2,4 lần quy chuẩn 4,7 mg/kg) và Lindane đạt 15,431 mg/kg (vượt 2,17 lần quy chuẩn 7,1 mg/kg). Hàm lượng ô nhiễm giảm dần theo chiều sâu; đến tầng 3m, nồng độ các chất đều giảm về dưới ngưỡng quy chuẩn.
  • Chất lượng nước dưới đất: 4 mẫu nước giếng sinh hoạt có hàm lượng hóa chất rất thấp (DDT cao nhất 0,0012 µg/l tại MN1, Lindane cao nhất 0,0011 µg/l tại MN2, Wofatox cao nhất 0,0021 µg/l tại MN1), đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT (ngưỡng DDT là 1 µg/l).
  • Phân vùng và khối lượng ô nhiễm: Tổng diện tích đất ô nhiễm là 325 $m^2$, được phân thành 3 khu vực:
    • Khu vực ô nhiễm nặng: Diện tích 65 $m^2$, DDT cực đại 11,34 mg/kg, đào sâu 2,5m, khối lượng đất cần xử lý là 162,5 $m^3$.
    • Khu vực ô nhiễm trung bình: Diện tích 165 $m^2$, DDT cực đại 10,584 mg/kg, đào sâu 2,5m, khối lượng đất cần xử lý là 280,5 $m^3$.
    • Khu vực ô nhiễm nhẹ: Diện tích 95 $m^2$, DDT cực đại 5,112 mg/kg, đào sâu 2,5m, khối lượng đất cần xử lý là 76 $m^3$.
  • Đề xuất công nghệ xử lý: Phân tích ma trận so sánh 5 công nghệ (chôn lấp/cô lập, thiêu đốt có xúc tác, phân hủy kiềm nóng, oxy hóa hóa học Fenton, phân hủy sinh học). Tác giả lựa chọn phương pháp hóa học Fenton ($H_2O_2$ kết hợp xúc tác $Fe^{2+}$) do tính triệt để, chi phí hợp lý và thời gian hoàn trả mặt bằng ngắn.

Phần V: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết toàn bộ hiện trạng ô nhiễm đất và nước, khẳng định tầng đất mặt tại nền kho cũ đang ô nhiễm nghiêm trọng các chất POP nhưng chưa phát tán sâu xuống tầng nước ngầm; đồng thời kiến nghị chính quyền địa phương sớm phê duyệt dự án xử lý đất ô nhiễm theo công nghệ Fenton và tăng cường quan trắc định kỳ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra hệ thống dữ liệu thực nghiệm chi tiết về hiện trạng tồn dư hóa chất BVTV trong đất và nước tại xã Đức Chính, thị xã Đông Triều:

Ký hiệu mẫu Vị trí / Tầng sâu lấy mẫu DDT (mg/kg) Lindane (mg/kg) Wofatox (mg/kg)
ĐC-01-50 Tâm nền kho, sâu 0,5m 11,340 15,431 4,018
ĐC-01-100 Tâm nền kho, sâu 1,0m 9,484 12,543 3,060
ĐC-01-200 Tâm nền kho, sâu 2,0m 8,631 7,411 2,010
ĐC-01-300 Tâm nền kho, sâu 3,0m 4,658 5,221 1,906
ĐC-01-400 Tâm nền kho, sâu 4,0m 3,578 2,124 1,300
ĐC-02-50 Cách tâm 4m phía Tây, sâu 0,5m 10,146 13,243 3,001
ĐC-02-100 Cách tâm 4m phía Tây, sâu 1,0m 7,126 9,454 2,900
ĐC-02-200 Cách tâm 4m phía Tây, sâu 2,0m 5,122 7,435 2,015
ĐC-02-300 Cách tâm 4m phía Tây, sâu 3,0m 2,022 4,018 1,010
ĐC-03-50 Cách tâm 4m phía Nam, sâu 0,5m 10,584 9,161 4,419
ĐC-03-100 Cách tâm 4m phía Nam, sâu 1,0m 8,254 8,211 2,012
ĐC-03-200 Cách tâm 4m phía Nam, sâu 2,0m 6,005 7,987 1,003
ĐC-03-300 Cách tâm 4m phía Nam, sâu 3,0m 3,025 3,251 0,050
ĐC-04-50 Cách tâm 4m phía Bắc, sâu 0,5m 8,114 10,612 3,030
ĐC-04-100 Cách tâm 4m phía Bắc, sâu 1,0m 7,982 8,124 1,003
ĐC-04-200 Cách tâm 4m phía Bắc, sâu 2,0m 5,011 7,895 0,813
ĐC-04-300 Cách tâm 4m phía Bắc, sâu 3,0m 2,243 4,256 0,230
ĐC-05-50 Cách tâm 4m phía Đông, sâu 0,5m 5,112 9,145 4,001
ĐC-05-100 Cách tâm 4m phía Đông, sâu 1,0m 5,543 8,254 3,009
ĐC-05-200 Cách tâm 4m phía Đông, sâu 2,0m 4,012 7,243 2,002
ĐC-05-300 Cách tâm 4m phía Đông, sâu 3,0m 2,124 4,214 1,010
QCVN 54:2013/BTNMT Ngưỡng xử lý (Nhóm 3) 4,700 7,100 Không quy định

Ghi chú: Giá trị in đậm là các mẫu vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Về hiện trạng môi trường nước dưới đất tại khu dân cư liền kề:

  • Mẫu MN1 (nhà ông Nguyễn Văn Hồng): DDT đạt 0,0012 µg/l; Lindane: không phát hiện (KPHT); Wofatox: 0,0021 µg/l.
  • Mẫu MN2 (nhà ông Trần Văn Nam): DDT: KPHT; Lindane: 0,0011 µg/l; Wofatox: KPHT.
  • Mẫu MN3 (nhà ông Đỗ Hữu Ban): DDT: KPHT; Lindane: 0,0010 µg/l; Wofatox: KPHT.
  • Mẫu MN4 (nhà ông Nguyễn Văn Bảy): DDT: KPHT; Lindane: KPHT; Wofatox: 0,0010 µg/l.
  • Toàn bộ 4 mẫu đều đạt yêu cầu theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT (ngưỡng DDT cho phép là 1,0 µg/l).

Tổng hợp phương án khoanh vùng xử lý đất ô nhiễm:

Khu vực ô nhiễm Diện tích ($m^2$) Nồng độ DDT max (mg/kg) Chiều sâu đào đề xuất (m) Thể tích đất cần xử lý ($m^3$)
Ô nhiễm nặng 65 11,340 2,5 162,5
Ô nhiễm trung bình 165 10,584 2,5 280,5
Ô nhiễm nhẹ 95 5,112 2,5 76,0
Tổng cộng 325 - - 519,0

Đóng góp chính của đề tài:

  • Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu quan trắc định lượng hoàn chỉnh về mức độ tồn dư và quy luật phân bố theo không gian - tầng sâu của các hoạt chất POP tại điểm ô nhiễm kho hóa chất xã Đức Chính.
  • Đề xuất và luận chứng việc lựa chọn công nghệ Fenton xử lý ô nhiễm đất dựa trên bảng phân tích, so sánh các tiêu chí kỹ thuật, kinh tế và môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (từ 11/02/2019 đến 13/04/2019), đợt lấy mẫu chỉ thực hiện vào một thời điểm trong mùa khô, chưa theo dõi được biến động nồng độ chất ô nhiễm theo mùa mưa lũ.
    • Chỉ tiêu Wofatox (Parathion-methyl) chưa có tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) chuyên biệt để phân tích và chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định ngưỡng xử lý trong đất và nước ngầm tại thời điểm thực hiện đề tài.
    • Đề tài mới dừng lại ở mức độ khảo sát hiện trạng, khoanh vùng ô nhiễm và đề xuất quy trình công nghệ trên lý thuyết, chưa tiến hành thử nghiệm mô hình Fenton ở quy mô pilot tại hiện trường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Triển khai thử nghiệm phản ứng Fenton trên mẫu đất thực tế của khu vực nhằm xác định tỷ lệ phối trộn tối ưu ($H_2O_2 : Fe^{2+}$) và thời gian phản ứng đạt hiệu suất phân hủy cao nhất.
    • Mở rộng mạng lưới quan trắc chất lượng nước dưới đất định kỳ quanh khu vực kho để kiểm soát nguy cơ thẩm thấu lan rộng của hóa chất POP trong tương lai.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Tài nguyên Thiên nhiên trong việc thiết kế đề cương khóa luận tốt nghiệp về quan trắc và đánh giá ô nhiễm đất tồn dư.
  • Nội dung giá trị:
    • Phương pháp bố trí mạng lưới lấy mẫu đất theo không gian và tầng sâu tại các điểm ô nhiễm kho hóa chất cũ.
    • Phương pháp đối chiếu, xử lý số liệu quan trắc thực địa theo QCVN 54:2013/BTNMT và QCVN 09-MT:2015/BTNMT.
    • Bảng tổng hợp so sánh ưu - nhược điểm của các giải pháp công nghệ xử lý đất nhiễm hóa chất BVTV khó phân hủy.

Câu hỏi thường gặp

1. Nồng độ chất ô nhiễm nào trong đất tại khu vực nghiên cứu có giá trị cao nhất và vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?
Nồng độ Lindane tại mẫu ĐC-01-50 (độ sâu 0,5m tại tâm kho) đạt 15,431 mg/kg, vượt 2,17 lần so với ngưỡng quy định của QCVN 54:2013/BTNMT (7,1 mg/kg). Nồng độ DDT tại vị trí này đạt 11,34 mg/kg, vượt 2,4 lần so với quy chuẩn (4,7 mg/kg).

2. Nồng độ các hóa chất BVTV biến đổi như thế nào theo độ sâu của tầng đất?
Nồng độ các chất ô nhiễm giảm dần từ mặt đất xuống sâu. Tại tâm nền kho (MD-01), nồng độ DDT giảm từ 11,34 mg/kg (sâu 0,5m) xuống 9,484 mg/kg (sâu 1m), 8,631 mg/kg (sâu 2m), 4,658 mg/kg (sâu 3m) và 3,578 mg/kg (sâu 4m). Từ độ sâu 3,0m trở xuống, nồng độ DDT và Lindane đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 54:2013/BTNMT.

3. Nguồn nước ngầm tại khu vực xung quanh kho chứa hóa chất có bị ô nhiễm không?
Kết quả phân tích 4 mẫu nước giếng sinh hoạt của các hộ dân xung quanh cho thấy nồng độ DDT dao động từ không phát hiện đến 0,0012 µg/l, nồng độ Lindane từ không phát hiện đến 0,0011 µg/l, tất cả đều nằm trong ngưỡng an toàn cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT (ngưỡng DDT là 1 µg/l), chứng tỏ nước ngầm chưa bị ô nhiễm bởi hóa chất BVTV tồn dư.

4. Tổng diện tích và khối lượng đất ô nhiễm cần bốc xúc xử lý là bao nhiêu?
Tổng diện tích đất ô nhiễm được khoanh vùng là 325 $m^2$, bao gồm khu ô nhiễm nặng (65 $m^2$), khu ô nhiễm trung bình (165 $m^2$) và khu ô nhiễm nhẹ (95 $m^2$). Với chiều sâu đào xử lý 2,5m, tổng khối lượng đất ô nhiễm cần xử lý theo tính toán của tác giả là 519,0 $m^3$ (trong đó khu nặng 162,5 $m^3$, khu trung bình 280,5 $m^3$ và khu nhẹ 76 $m^3$).

5. Vì sao tác giả lựa chọn phương pháp hóa học Fenton để xử lý đất ô nhiễm tại khu vực này?
Phương pháp Fenton sử dụng chất oxy hóa mạnh $H_2O_2$ kết hợp xúc tác $Fe^{2+}$ để phân hủy triệt để các hợp chất clo hữu cơ bền vững thành $CO_2$, $H_2O$ và các chất ít độc hại. Qua so sánh với các biện pháp chôn lấp, đốt có xúc tác, phân hủy kiềm nóng và sinh học, phương pháp Fenton đạt hiệu quả phân hủy cao, kinh phí hợp lý, thời gian hoàn trả mặt bằng ngắn và đáp ứng tốt các yêu cầu kỹ thuật môi trường.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Phan Tuấn Vũ đã đánh giá toàn diện hiện trạng ô nhiễm môi trường đất do tồn dư hóa chất BVTV tại kho chứa cũ Hợp tác xã Đức Chính, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Nghiên cứu xác định rõ 66% số mẫu đất vượt ngưỡng DDT và 71% số mẫu vượt ngưỡng Lindane theo QCVN 54:2013/BTNMT, tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt từ 0 đến 2m trên diện tích 325 $m^2$ với tổng khối lượng cần bốc xúc xử lý là 519 $m^3$. Nguồn nước ngầm xung quanh hiện vẫn an toàn theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT, và việc đề xuất ứng dụng công nghệ Fenton mang lại giải pháp kỹ thuật khả thi phục vụ công tác cải tạo, phục hồi môi trường đất tại địa phương.