Tổng quan nghiên cứu

Thịt lợn là nguồn thực phẩm thiết yếu chiếm tỷ trọng tiêu thụ áp đảo trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam. Thống kê chăn nuôi toàn quốc ghi nhận đàn lợn đạt 29,1 triệu con với sản lượng thịt hơi đạt 3,7 triệu tấn, đóng góp quan trọng vào mức tăng trưởng 16,32% GDP của toàn ngành nông lâm thủy sản. Tuy nhiên, tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn diễn biến phức tạp khi mỗi năm cả nước xảy ra từ 129 đến 193 vụ ngộ độc thực phẩm, khiến hơn 4.000 đến 5.600 người mắc và hàng chục ca tử vong, trong đó tác nhân vi sinh vật đường ruột chiếm từ 50% đến 60% tổng số vụ.

Tại tỉnh Tuyên Quang, hoạt động giết mổ và lưu thông thịt lợn chủ yếu diễn ra tại 563 cơ sở, điểm giết mổ nhỏ lẻ phân tán trong khu dân cư. Đáng báo động, 100% các cơ sở này thực hiện giết mổ thủ công trực tiếp trên nền sàn, không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn và có tới 562 cơ sở hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát kiểm dịch thú y. Nhằm giải quyết điểm nghẽn nghiêm trọng này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Nguyễn Minh Thắng thực hiện đề tài nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng điều kiện vệ sinh thú y và mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong thịt lợn tại các cơ sở giết mổ và quầy kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

Nghiên cứu được triển khai lấy mẫu qua 2 đợt vào tháng 7 và tháng 10 năm 2016 với tổng cộng 110 mẫu phân tích chuyên sâu tại phòng thử nghiệm đạt chuẩn ISO 17025. Kết quả cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý thú y trong việc thiết lập lộ trình giảm thiểu tỷ lệ ô nhiễm Salmonella, cải thiện chất lượng nguồn nước và loại bỏ hoàn toàn các điểm giết mổ không đủ điều kiện vệ sinh loại C.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị an toàn thực phẩm theo chuỗi từ trang trại đến bàn ăn (Farm-to-Fork) kết hợp cùng hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và thực hành sản xuất tốt (GMP). Quá trình khảo sát đánh giá dựa trên 3 khái niệm vi sinh học trọng tâm:

  1. Vi sinh vật chỉ thị vệ sinh (Indicator Microorganisms): Bao gồm tổng số vi sinh vật hiếu khí (TSVSVHK), Coliforms tổng số và Escherichia coli. Sự hiện diện với mật độ cao của nhóm này phản ánh trực tiếp mức độ nhiễm bẩn từ phân, bùn đất, điều kiện vệ sinh nhà xưởng kém hoặc nguồn nước giết mổ bị ô nhiễm.
  2. Vi khuẩn gây bệnh truyền qua thực phẩm (Foodborne Pathogens): Điển hình là Salmonella spp. và các chủng E. coli sinh độc tố ruột (EHEC), có khả năng gây hội chứng viêm dạ dày - ruột cấp tính, sốt cao, tiêu chảy mất nước và nhiễm trùng huyết nguy hiểm.
  3. Điểm kiểm soát tới hạn trong quy trình giết mổ: Các công đoạn tắm rửa gia súc trước mổ, cạo lông, tách phủ tạng, rửa thân thịt và phương tiện vận chuyển được xác định là những mắt xích nhạy cảm nhất quyết định tải lượng vi sinh vật bám dính trên thịt tươi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa và lấy mẫu ngẫu nhiên tại 05 cơ sở giết mổ lợn (gồm 01 cơ sở giết mổ tập trung công suất 64-75 con/ngày và 04 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ công suất 1-7 con/ngày) cùng 05 chợ truyền thống lớn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

Tổng số 110 mẫu thử nghiệm được thu thập qua 2 đợt theo quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt:

  • 50 mẫu lau bề mặt thân thịt lợn (diện tích 400 cm2/mẫu) lấy sau khi rửa lần cuối trước khi pha lọc, tuân thủ tiêu chuẩn QCVN 01-04:2009/BNNPTNT và TCVN 4833:2002.
  • 10 mẫu nước sử dụng trong giết mổ (dung tích 500 ml/mẫu) thu thập theo TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008 và TCVN 6663-5:2009.
  • 50 mẫu thịt lợn nạc tươi sống (khối lượng 0,1 kg/mẫu) lấy tại các sạp kinh doanh chợ truyền thống.

Toàn bộ chỉ tiêu vi sinh vật được phân tích tại Phòng thử nghiệm Nông nghiệp LASNN 80 (đạt chuẩn ISO 17025) thuộc Cơ quan Thú y vùng II. Phương pháp định lượng TSVSVHK thực hiện theo TCVN 4884-1:2015, định lượng E. coli theo TCVN 7924-2:2008, phát hiện Salmonella theo TCVN 4829:2005, và xác định Coliforms/E. coli trong nước theo TCVN 6187-2:1996 (phương pháp MPN). Tiêu chí đánh giá điều kiện vệ sinh thú y căn cứ theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT và Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT; ngưỡng giới hạn vi sinh vật đối chiếu theo QCVN 8-3:2012/BYT và QCVN 01:2009/BYT. Số liệu được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 nhằm so sánh tỷ lệ nhiễm giữa các đợt kiểm tra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích xét nghiệm vi sinh đem lại 4 kết quả nổi bật:

  1. Hiện trạng vệ sinh thú y tại các cơ sở giết mổ còn rất thấp: Trong 05 cơ sở giết mổ khảo sát, có tới 4/5 cơ sở (chiếm tỷ lệ 80%) bị xếp loại C (không đạt yêu cầu vệ sinh thú y). Duy nhất 01 cơ sở giết mổ tập trung đạt loại B (chiếm 20%) nhờ có sự quản lý, giám sát và lăn dấu kiểm soát giết mổ của cơ quan thú y. Tại 05 chợ kinh doanh thịt, 100% sạp hàng đạt mức xếp loại B.
  2. Chất lượng nguồn nước giết mổ bị ô nhiễm vi sinh nặng nề: Qua 10 mẫu nước kiểm tra, có 5/10 mẫu (tỷ lệ 50%) không đạt chuẩn về chỉ tiêu Coliforms tổng số và 4/10 mẫu (tỷ lệ 40%) không đạt chỉ tiêu E. coli theo QCVN 01:2009/BYT. Ở đợt 1, tỷ lệ mẫu nước không đạt lên tới 60% (3/5 mẫu), sau đó giảm xuống còn 40% đối với Coliforms và 20% đối với E. coli ở đợt 2 nhờ các biện pháp súc rửa đường ống và chuyển sang dùng nước máy.
  3. Ô nhiễm vi sinh trên bề mặt thân thịt lợn tại cơ sở giết mổ: Kiểm tra 50 mẫu lau thân thịt cho thấy 100% số mẫu đạt yêu cầu về TSVSVHK (nằm trong giới hạn 5x10^5 đến 5x10^6 CFU/cm2 theo QCVN 8-3:2012/BYT), tuy nhiên mật độ khuẩn lạc phân bố ở mức tiệm cận cận trên. Về chỉ tiêu vi khuẩn gây bệnh, đợt 1 phát hiện 3/25 mẫu (tỷ lệ 12%) dương tính với Salmonella tại 2 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ; đợt 2 không phát hiện mẫu nào nhiễm Salmonella (0/25 mẫu).
  4. Mức độ ô nhiễm vi sinh vật tại các quầy kinh doanh thịt ở chợ: Trong 50 mẫu thịt lợn nạc kiểm tra tại chợ truyền thống, ghi nhận 3/50 mẫu (chiếm 6%) dương tính với Salmonella và 1/50 mẫu (chiếm 2%) có hàm lượng E. coli vượt ngưỡng giới hạn tối đa cho phép (vượt mức 5x10^3 CFU/g).

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật trong thịt lợn bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống. Việc 100% cơ sở mổ lợn trên sàn gạch men hoặc bê tông nứt vỡ, đọng nước bẩn là nguyên nhân trực tiếp khiến thân thịt tiếp xúc với dịch thải. Thao tác mổ tách lòng thủ công dễ làm rách đường tiêu hóa, khiến vi khuẩn đường ruột tràn ra dính vào quầng thịt. Bên cạnh đó, thói quen chỉ dùng một con dao duy nhất cho toàn bộ công đoạn từ cắt tiết đến lọc thịt mà không qua khử trùng bằng nước nóng làm gia tăng ô nhiễm chéo.

Nguồn nước giếng khoan chưa xử lý hoặc bể chứa lâu ngày không súc rửa là ổ chứa Coliforms liên tục tái nhiễm vào thịt trong quá trình dội rửa. Sau giết mổ, 100% thịt được chở đến chợ bằng xe máy không có thùng bảo ôn chuyên dụng, nhiều trường hợp xếp chồng 2 đến 3 thân thịt lên nhau và che đậy bằng bao tải bẩn, tạo điều kiện cho vi khuẩn nhân lên nhanh chóng dưới nhiệt độ môi trường. Tại các chợ, thịt được bày bán trên bàn gỗ ẩm mốc, nhiều khe nứt tích tụ dịch thịt cũ, lại đặt gần các lối đi bụi bặm và khu vực bán thực phẩm tươi sống lẫn lộn.

So sánh với các công bố của Trung tâm Kiểm tra vệ sinh thú y Trung ương I (với trên 64,89% mẫu thịt lợn tại lò mổ không đạt chuẩn vi sinh) hay khảo sát tại 4 tỉnh đồng bằng sông Hồng (tỷ lệ thịt lợn nhiễm E. coli vượt ngưỡng là 58,33%), kết quả tại Tuyên Quang phản ánh mẫu số chung của mạng lưới giết mổ nhỏ lẻ miền núi. Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột ghép so sánh tỷ lệ nhiễm vi sinh giữa 2 đợt lấy mẫu, biểu đồ radar thể hiện mức độ đáp ứng 10 tiêu chí điều kiện vệ sinh nhà xưởng, và biểu đồ hộp (box-plot) biểu diễn mật độ logarit CFU/g của E. coli qua từng công đoạn trong chuỗi cung ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát triệt để nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật và nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thú y cho chuỗi thịt lợn tại Tuyên Quang, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực thi đồng bộ:

  1. Tái cơ cấu và quy hoạch mạng lưới giết mổ tập trung: Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang cần chỉ đạo các huyện, thành phố kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các điểm giết mổ tự phát loại C nằm xen kẽ trong khu dân cư; đẩy mạnh triển khai Quyết định 1267/QĐ-BNN-TY nhằm nâng tỷ lệ gia súc được đưa vào giết mổ tại các cơ sở tập trung có kiểm soát thú y từ mức 0,18% hiện nay lên tối thiểu 60% vào năm 2020.
  2. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và kiểm soát nguồn nước: Chi cục Chăn nuôi và Thú y hướng dẫn 100% cơ sở chuyển đổi triệt để từ phương thức mổ sàn sang hệ thống bệ mổ nâng cao hoặc dây chuyền treo bán công nghiệp trong vòng 12 tháng; bắt buộc các cơ sở sử dụng nguồn nước máy sinh hoạt hoặc lắp đặt hệ thống lọc khử trùng bằng Clo/Iodine nhằm đảm bảo 100% mẫu nước đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT.
  3. Chuẩn hóa quy trình vận chuyển và quầy sạp kinh doanh: Sở Công Thương phối hợp với Ban quản lý chợ yêu cầu 100% tiểu thương thay thế bàn gỗ bằng bàn inox không gỉ, dễ cọ rửa và khử trùng trước quý IV/2018; đồng thời bắt buộc trang bị thùng kín bằng vật liệu không thấm nước khi vận chuyển thịt bằng xe máy nhằm cắt đứt nguồn lây nhiễm bụi bẩn từ môi trường.
  4. Tăng cường kiểm soát giết mổ và tập huấn nghiệp vụ: Bố trí đủ định biên từ 1 đến 2 cán bộ thú y chuyên trách kiểm soát tại mỗi điểm giết mổ; tổ chức tối thiểu 4 lớp tập huấn mỗi năm về Thực hành sản xuất tốt (GMP) và an toàn thực phẩm cho 100% chủ cơ sở và công nhân mổ thịt, đồng thời duy trì tần suất kiểm tra vệ sinh đột xuất tối thiểu 2 lần/quý.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực nghiệm trong công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Chi cục Thú y các địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tế để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương, phục vụ công tác thanh kiểm tra, phân loại điều kiện vệ sinh thú y theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT và Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT.
  • Chủ cơ sở giết mổ và tiểu thương kinh doanh thịt gia súc: Giúp nhận diện rõ các điểm kiểm soát rủi ro then chốt trong quy trình sơ chế (như vệ sinh đường ống nước, kỹ thuật tách phủ tạng không làm vỡ ruột, bao gói kín khi vận chuyển) để chủ động khắc phục lỗi và nâng hạng cơ sở từ loại C lên loại B và A.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên chuyên ngành Thú y - Công nghệ thực phẩm: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp lấy mẫu thực địa theo TCVN, quy trình định danh vi sinh vật chỉ thị (E. coli, Coliforms, Salmonella) tại phòng thí nghiệm ISO 17025.
  • Doanh nghiệp chế biến thực phẩm và đơn vị quản lý bếp ăn tập thể: Sử dụng khung đánh giá và các chỉ tiêu vi sinh vật để thiết lập tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung cấp thịt lợn đầu vào an toàn, phòng ngừa triệt để các vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài nghiên cứu đã thu thập và phân tích bao nhiêu mẫu thực tế?
Nghiên cứu đã thực hiện lấy tổng cộng 110 mẫu tại tỉnh Tuyên Quang qua 2 đợt khảo sát, gồm 50 mẫu lau bề mặt thân thịt lợn, 10 mẫu nước phục vụ giết mổ và 50 mẫu thịt lợn nạc tươi sống tại 05 cơ sở giết mổ và 05 chợ truyền thống. Toàn bộ mẫu đều được xét nghiệm tại phòng thử nghiệm LASNN 80 đạt chuẩn ISO 17025.

Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella trong thịt lợn tại địa bàn khảo sát là bao nhiêu?
Tại các cơ sở giết mổ, đợt 1 ghi nhận 3/25 mẫu lau thân thịt (tỷ lệ 12%) dương tính với Salmonella tại 2 cơ sở nhỏ lẻ; sang đợt 2 tỷ lệ này giảm về 0%. Tại các quầy kinh doanh ở chợ truyền thống, tỷ lệ mẫu thịt lợn nhiễm Salmonella là 6% (3/50 mẫu), không đáp ứng yêu cầu theo QCVN 8-3:2012/BYT.

Tại sao có tới 80% cơ sở giết mổ khảo sát lại bị xếp loại C về vệ sinh thú y?
Nguyên nhân do 4/5 cơ sở là các điểm giết mổ nhỏ lẻ tự phát trong khu dân cư, 100% thực hiện mổ trên sàn nhà bê tông nứt vỡ, dùng chung 01 con dao cho mọi công đoạn, không có hệ thống xử lý chất thải và nguồn nước giếng khoan chưa qua xử lý có tỷ lệ nhiễm Coliforms lên đến 50%.

Việc vận chuyển thịt bằng xe máy ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ ô nhiễm vi sinh?
Thịt lợn sau mổ không được bao gói mà chở trực tiếp bằng xe máy, thậm chí xếp chồng nhiều thân thịt và phủ bạt bẩn khiến sản phẩm tiếp xúc với bụi đường và nhiệt độ nóng ẩm ngoài trời. Điều này kích thích vi khuẩn E. coliSalmonella nhân lên nhanh chóng về số lượng trước khi đến tay người tiêu dùng.

Biện pháp súc rửa đường ống và bể chứa nước có thực sự làm giảm ô nhiễm vi sinh không?
Có. Kết quả kiểm nghiệm thực tế cho thấy sau khi các cơ sở giết mổ được khuyến cáo tiến hành súc rửa bể chứa, tẩy trùng đường ống hoặc chuyển sang dùng nước máy, tỷ lệ mẫu nước không đạt chỉ tiêu Coliforms đã giảm từ 60% ở đợt 1 xuống còn 40% ở đợt 2, và chỉ tiêu E. coli giảm mạnh từ 60% xuống 20%.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng vệ sinh thú y tại Tuyên Quang với 80% cơ sở giết mổ nhỏ lẻ xếp loại C và 100% cơ sở thực hiện giết mổ trên sàn chưa đảm bảo điều kiện an toàn sinh học.
  • Nguồn nước giết mổ bị ô nhiễm vi sinh nghiêm trọng với 50% mẫu nhiễm Coliforms và 40% mẫu nhiễm E. coli, là nguồn truyền lây vi khuẩn trực tiếp vào thân thịt.
  • Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm Salmonella được phát hiện ở mức 12% trên thân thịt tại lò mổ (đợt 1) và 6% trên thịt lợn bày bán tại các chợ truyền thống.
  • Công trình đóng góp hệ thống cứ liệu khoa học và thực tiễn vững chắc, định hình lộ trình nâng cấp chuỗi cung ứng thịt tươi sống và kiểm soát giết mổ tập trung giai đoạn 2017-2020.
  • Các cơ quan quản lý và địa phương cần khẩn trương áp dụng ngay bộ giải pháp chuẩn hóa hạ tầng, kiểm soát nguồn nước và giám sát phương tiện vận chuyển để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.