CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ 1. Đánh giá chung về làng nghề tái chế Việt Nam Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam trong những năm gần đây có ý nghĩa tích cực về kinh tế- xã hội, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, trên toàn quốc có khoảng gần 1.500 làng nghề đang hoạt động với trên 100 nghề khác nhau, trong đó có khoảng trên 300 làng nghề truyền thống. Dựa vào sản phẩm và phương thức sản xuất, có thể chia ra làm 5 loại nghề như sau: Làng nghề sản xuất thủ công, làng nghề sản xuất công nghiệp, làng nghề chế biến lương thực- thực phẩm, làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu, làng nghề buôn bán – dịch vụ [1].
Quy mô của các cơ sở sản xuất ở các làng nghề rất linh động, từ hộ gia đình đến các tổ hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển từ một vài gia đình, một làng nghề đến một vài xã, trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề. Số lượng thiết bị, công suất và mức sử dụng nguyên, nhiên liệu vật liệu ở nhiều làng nghề tương đương với các khu công nghiệp lớn. Ví dụ: các làng nghề sản xuất sắt thép xây dựng ở xã Châu Khê (Bắc Ninh) với khoảng 3000- 4000 nhân công, có sản lượng là 210.000 tấn/năm, gấp hơn 2 lần sản lượng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên (sản lượng 100.000 cán bộ, công nhân); Riêng khu vực Đồng bằng Bắc Bộ có khoảng gần 20 làng nghề sử dụng vật liệu kim loại như vậy, nằm ở các tỉnh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định… với hàng ngàn lò nấu thép trung tần, lò rèn; các làng sản xuất giấy ở Dương ổ, Châu Khê, Hạ Giang… (Bắc Ninh) có trên 100 xưởng sản xuất giấy các loại, tổng công suất gần 60.000 tấn/năm; một số làng tái chế nhựa ở Hưng Yên có công suất hàng ngàn tấn sản phẩm/năm; các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng gốm, sứ…[1] 5 Hiện nay, tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn chậm, cầm chừng và không đồng bộ, vì mức độ đầu tư cho cải tiến công nghệ phụ thuộc vào khả năng của từng tổ hợp hoặc hộ gia đình, vào sự cân đối giữa mức đầu tư với giá trị sản phẩm trên thị trường, vào trình độ hoạt động kinh tế của người đầu tư sản xuất… các thiết bị bán tự động hoặc tự động được sử dụng trong dây chuyền sản xuất phần lớn đã cũ, không đồng bộ và nhiều thiết bị không còn đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều nơi, khoa học kỹ thuật và công nghệ mới được thâm nhập vào làng nghề một cách tự phát, do các chủ sản xuất tự tìm hiểu và ứng dụng, thậm chí bằng cách truyền miệng mà không được tư vấn, hướng dẫn của các nhà chuyên môn, nên đã gây ra nhiều sự cố về chất lượng sản phẩm và môi trường.
Cùng với sự phát triển về quy mô, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là mối lo ngại cho toàn xã hội. Hiện nay, hướng giải quyết những vấn đề môi trường trong các làng nghề đang gặp nhiều vướng mắc lớn. Các biện pháp tăng cường quản lý, kiểm soát chỉ đạt hiệu quả ở mức độ rất thấp, do các cơ sở sản xuất chỉ dùng các biện pháp tiêu cực (như nộp tiền phạt hoặc tạm thời ngừng phát thải vào thời điểm kiểm tra…) để đối phó với công luận và sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Ngay cả ở những làng nghề đã được cấp đất để di chuyển khu vực sản xuất ra khỏi khu vực dân cư (như làng gốm Bát Tràng, sắt Đa Hội…) thì hiệu quả về môi trường cũng chưa cao, vì nhiều cơ sở sản xuất có nhu cầu di chuyển đến khu mới quy hoạch vì muốn mở thêm diện tích sản xuất.
Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng mức độ ô nhiễm. Các công nghệ và thiết bị bảo vệ môi trường chưa có trong các dây chuyền sản xuất. Một vài nơi thử áp dụng một số biện pháp xử lý chất thải, nhưng hiệu quả chưa cao, do điều kiện cơ sở hạ tầng của các làng nghề quá thấp kém và chi phí xử lý quá cao. Điều quan trọng hơn nữa là hầu hết các chủ sản xuất chưa sẵn sàng tự 6 giác trong việc bảo vệ môi trường.
Sản xuất thủ công là nguyên nhân làm tăng mức độ tác động tới môi trường. Ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới mức nghiêm trọng: Môi trường vật lý, môi trường sinh thái- cảnh quan bị suy thoái nặng nề. Các khu vực dân cư, làng xã vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất với các nhà xưởng tạm bợ, nguyên vật liệu và các loại chất thải đổ bừa bãi, các nhà ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một quang cảnh hỗn loạn và ô nhiễm; nhiều diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, đất dự phòng… đang bị các loại chất thải lấn dần và làm ô nhiễm… Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng. Ở nhiều làng nghề, các nhà ở phải thường xuyên đóng cửa để giảm tác động của bụi, tiếng ồn, hơi hoá chất và các khí độc (làng sắt thép, đồ gỗ, sơn, giấy, nhựa…); các công trình công cộng như trường học, trạm xá, nhà trẻ… đều nằm trong khu vực ô nhiễm nặng… Người lao động làm việc trong các điều kiện không an toàn, nhà xưởng, hệ thống điện nước tạm bợ, các điều kiện chiếu sáng và thông gió kém, mặt bằng sản xuất chật chội, thời gian lao động quá dài (10- 12h/ngày) trong môi trường độc hại, điều kiện lao động nặng nhọc và hầu Những điều kiện trên dẫn đến tình trạng gia tăng các tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp như không có các dụng cụ bảo hộ lao động…(bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và một số bệnh hiểm nghèo khác).
Ví dụ ở khu vực sản xuất sắt thép xã Châu Khê (Bắc Ninh) có trên 60% dân số trong xã (kể cả những người không tham gia sản xuất) mắc các bệnh liên quan đến sản xuất làng nghề. Trong 10 năm gần đây, tuổi thọ trung bình trong làng nghề thấp hơn hẳn các khu vực dân cư không có làng nghề [3]. 7 Những tác động tiêu cực tới môi trường kinh tế- xã hội cũng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này. Đó là sự gia tăng dân số cơ học; thay đổi cơ cấu lao động… kéo theo sự gia tăng các nhu cầu dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục… nảy sinh các vấn đề lớn trong việc sử dụng lao động, những biến động đột biến về thị trường nguyên liệu, hàng hoá và các vấn đề liên quan đến trật tự trị an khu vực, gây khó khăn trong quản lý xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường của các địa phương.
Nhiều làng nghề thu hút lao động từ các vùng lân cận và các tỉnh khác lên tới con số hàng ngàn người và con số này luôn biến động theo thời vụ và thị trường sản phẩm, khiến cho các cơ quan quản lý địa phương luôn ở trong tình trạng quá tải. Sự phát triển của các làng nghề hầu hết mang tính tự phát và hoàn toàn chịu sự chi phối bởi các yếu tố thị trường, nguồn nguyên, vật liệu. Thêm vào đó, những hạn chế về trình độ quản lý, trình độ lao động, dân trí, khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường… đã làm tăng mức độ rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, lãng phí vật tư, nguyên liệu, tài nguyên khoáng sản và ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi, nhiều lúc, tác động tới môi trường đã đến mức báo động, thậm chí gây nguy hại đến người, gia súc, suy giảm hệ sinh thái khu vực như các vụ nổ lò nấu kim loại, nhiễm độc kim loại nặng, khí và hoá chất độc, tình trạng ô nhiễm hoàn toàn các nguồn nước trong khu vực… do thiếu trách nhiệm và kiến thức nghề nghiệp… Bên cạnh đó, những hạn chế trong cơ chế quản lý, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng cũng là một trong những nguyên nhân chính cản trở việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường cũng như việc bảo đảm quyền lợi, sức khoẻ và tính mạng người lao động. Rõ ràng, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là yêu cầu cấp bách hiện nay và rất cần có những biện pháp quản lý và xử lý thích hợp.
Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam 1. Lao động và các vấn đề về bệnh nghề nghiệp liên quan đến làng nghề Từ lâu, vấn đề về an toàn lao động trong các làng nghề được nhắc đến nhiều, song tình trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn không giảm đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều chủ cơ sở sản xuất không quan tâm đến việc trang bị phương tiện bảo hộ cho người lao động. Thậm chí, chính bản thân người lao động còn thờ ơ với việc tự bảo vệ mình.
Một số liệu thống kê của các tổ chức chuyên ngành cho biết, hơn 90% người lao động nông nghiệp và làng nghề tiếp xúc các yếu tố nhiệt, bụi là 65,89%, tiếng ồn: 48,8%, hóa chất: 59,5%. Đối với tai nạn lao động và bệnh tật thì những nguy cơ gây bỏng, đứt tay chân, điện giật, bệnh hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa luôn chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể, hơn 50% số người lao động tại các làng nghề bị nhiễm bệnh liên quan đến hô hấp [3]. Tình trạng bệnh nghề nghiệp, số vụ tai nạn lao động ngày càng có xu hướng gia tăng tại các làng nghề, một phần do chủ các cơ sở không đầu tư máy móc, thiết bị có độ an toàn cao.
Theo đánh giá của ngành chức năng, máy móc sử dụng trong sản xuất tại các làng nghề phần lớn không đảm bảo an toàn. Phần lớn máy móc không có tài liệu kỹ thuật để hướng dẫn, vận hành an toàn thiết bị. Ngoài ra, còn có các máy tự chế, tự lắp ráp từ các bộ phận cũ, chắp vá, nhiều chi tiết hỏng không được thay thế, sửa chữa. Do vậy, nguy cơ gây ra các vụ tai nạn lao động là rất lớn.
Hoặc thậm chí, có người được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động nhưng vẫn chủ quan không sử dụng dẫn đến những tai nạn đáng tiếc. Đây là thực trạng chung trong việc sử dụng lao động tại hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ở các làng nghề.