Đặt vấn đề Gà Ác là một giống gà nội, đã được nhân dân ta nuôi giữ từ lâu đời, nhiều nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Gà Ác có tầm vóc nhỏ, khối lượng 16 tuần tuổi gà trống đạt 725 g và gà mái đạt 565 g (Nguyễn Văn Thiện và ctv. Hiện nay tại các tỉnh như Tiền Giang, Long An, nuôi gà ác đẻ trứng thương phẩm với qui mô trang trại mang lại hiệu quả rất cao cho nhà chăn nuôi do trứng gà Ác có hương vị rất thơm ngon, thịt gà Ác có giá trị dinh dưỡng cao hơn các giống gà khác (Nguyễn Văn Hải và Lê Thị Hoa, 1999). Khối lượng trứng gà Ác trung bình là 35 g, rất được người tiêu dùng ưa chuộng được bày bán trong các chợ và các siêu thị với giá cao hơn trứng gà công nghiệp.
Trong các số liệu nghiên cứu ban đầu của Nguyễn Nhựt Xuân Dung và ctv. (2014a,b) cho thấy vào khoảng 26 đến 36 tuần tuổi, tỉ lệ đẻ của gà Ác khá cao có thể lên đến 55-60%, lượng thức ăn tiêu thụ thấp (50 -60 gam/con/ngày) và mức độ 15,5% protein trong khẩu phần cho thấy gà vẫn đảm bảo được năng suất sinh sản so với sử dụng thức ăn hỗn hợp công nghiệp. Các đặc tính về sinh trưởng và sinh sản cũng như thành phần hóa học, acid béo và acid amin của thịt gà Ác đã được công bố trên nhiều tài liệu (Nguyễn Văn Thiện và ctv., 1999; Trần Thị Mai Phương, 2004; Tran Thi Mai Phuong và Nguyen Van Thien, 2008). Trong khi nhu cầu dinh dưỡng của các giống gà đẻ cao sản công nghiệp đã được NRC (1994) và các công ty sản xuất con giống như Lohmann, Isa Brown hay Hisex Brown công bố rộng rãi và được áp dụng rất cụ thể ở nước ta nhất là trong lãnh vực chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm, cho đến nay các nghiên cứu cụ thể về dinh dưỡng của giống gà này vẫn còn rất ít và chưa có hệ thống.
Các tài liệu nước ngoài về giống gà da đen, thịt đen, xương đen cũng chỉ mới đưa ra những nhận xét chung về đặc điểm ngoại hình, phẩm chất thịt. nhưng chưa có tài liệu cụ thể nào đề cập một cách hoàn chỉnh về việc xác định nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng cho gà Ác mái đẻ trứng thương phẩm. Protein đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong chăn nuôi gia súc gia cầm và gà đẻ trứng nói riêng, hiệu quả sử dụng protein phụ thuộc vào số lượng và thành phần acid amin có trong khẩu phần. Lysine và methionine là 2 acid amin giới hạn nhất trong khẩu phần gà mái đẻ dựa trên bắp và bánh dầu nành.
Nhu cầu về protein, lysine, methionine được NRC (1994) đề nghị cụ thể cho các giống gà đẻ trứng trắng hay màu cũng như mức độ tiêu thụ thức ăn của chúng. Năng lượng là một bộ phận quan trọng của nhu cầu dinh dưỡng, mặc dù gà có thể tự điều chỉnh khẩu phần bằng cách mức ăn khi năng lượng thấp. Hiện nay các số liệu dùng để tính năng lượng cho gia 1 cầm đẻ trứng thương phẩm đều dựa vào các công thức do NRC hay ARC đề nghị, hiện có rất ít số liệu tính năng lượng dùng cho gà địa phương (Phạm Tấn Nhã, 2014), trong đó chưa có số liệu cho gà Ác đẻ. Như vậy, khi áp dụng các các mức độ acid amin và năng lượng không thích hợp trong khẩu phần sẽ không phát huy được tiềm năng sản xuất của con giống.
Do đó cần thiết phải thực hiện các nghiên cứu về dinh dưỡng, tối ưu hóa mức độ năng lượng, protein và acid amin trong khẩu phần. Vì thế đề tài: “Đánh giá các mức năng lượng, protein và acid amin trong khẩu phân lên năng suất sinh sản của gà Ác đẻ trứng thương phẩm” được thực hiện.2 Mục tiêu Đề tài tiến hành với 4 mục tiêu: Xác định tỉ lệ tiêu hóa, nitơ tích lũy và giá trị năng lượng trao đổi của một số thực liệu dùng trong chăn nuôi gà Ác đẻ. Xác định các mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần cho gà Ác đẻ. Đánh giá các tỉ lệ lysine/ AMEn khác nhau trong khẩu phần của gà Ác đẻ lên năng suất, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng nitơ.
Đánh giá ảnh hưởng của tỉ lệ lysine/ các acid amin có lưu huỳnh (TSAA) trong khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng nitơ của gà Ác đẻ. Nhằm nâng cao năng suất sinh sản, chất lượng trứng, hiệu quả sử dụng nitơ và hiệu quả kinh tế 1.3 Điểm mới của nghiên cứu - Xác định được tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, nitơ tích lũy và giá trị năng lượng trao đổi biểu kiến (AME), có hiệu chỉnh nitơ (AMEn) và giá trị năng lượng trao đổi thuần (TME) của 17 thực liệu dùng cho chăn nuôi gà Ác đẻ trứng. - Xác định khẩu phần có mức AMEn là 2750 kcal/kg, 16% protein, tỷ số lysine/AMEn là 0,41 với 1,12% lysine, tỷ số TSAA/ lysine là 0,85 trong đó tỷ lệ TSAA trong khẩu phần là 0,952 và methionine là 0,482% mang lại hiệu quả chăn nuôi tốt nhất, làm giảm sự bài thải uric acid và tăng hiệu quả sử dụng nitơ. 2 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Gà Ác Gà Ác (Gallus bankiwa) là giống gà rất đặc trưng ở đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, được nuôi lâu đời và phổ biến nhất là tỉnh Tiền Giang và Long An, hiện nay có nhiều nơi đã nuôi giống gà này nhờ vào đặc điểm là lông mảnh và thuần màu trắng, nhưng da thịt, xương và mỏ đều đen, chân đen hoặc xanh đen có 5 ngón.1: Gà Ác trống Hình 2.2: Kiểu mào của Gà Ác trống Hình 2.3: Gà Ác mái Gà Ác là giống gà nhỏ con nhất so với các giống gà nội địa, lúc 9 tuần tuổi con trống chỉ đạt 467 g và con mái là 379 g. Khối lượng lúc trưởng thành lúc 18 tuần tuổi con trống chỉ cân nặng 800 g và con mái là 630 g (Trần Thị Mai Phương và ctv. Khối lượng gà Ác đẻ trứng đầu tiên trung bình là 709 g/gà (16-17,5 tuần tuổi). Sau 30 ngày đẻ gà có khối lượng là 905 g, lúc loại 3 thải là 1545 g/gà, lúc 85- 87 tuần tuổi (Nguyễn Văn Yên, 2015).
Do những đặc điểm giống khác biệt nên gà Ác ít bị lai tạp với các giống gà khác, vì thế hệ con cháu bị biến đổi về kiểu hình như thay đổi màu sắc lông và tầm vóc của gà. Theo nghiên cứu của Trần Thị Mai Phương và Lê Thị Biên (2007), gà Ác chịu lạnh kém vì thế chúng chủ yếu phân bố ở miền Nam, giống gà này thành thục tính dục sớm, khoảng 15 tuần tuổi có thể rớt hột đầu tiên, tập trung khoảng 113 – 125 ngày, tuy nhiên tỷ lệ đẻ còn rất thấp khoảng 5% của quần thể. Trong điều kiện nuôi bán chăn thả hay chăn thả tự do, sản lượng trứng của gà Ác thấp, trung bình từ 90 - 95 quả/mái/năm (Tran Thi Mai Phuong and Nguyen Van Thien, 2008). Khối lượng trứng gà Ác khá nhỏ 30 – 31 g/quả, lúc một ngày tuổi gà chỉ nặng khoảng 18 – 19 g, lúc 4 tuần tuổi từ 115 – 129 g.
Trên thị trường, quả trứng gà Ác tuy nhỏ, nhưng luôn cao hơn trứng gà công nghiệp. Ngoài ra thịt và trứng của gà Ác thơm ngon, nên rất được ưa chuộng nhờ có chứa lượng sắc tố melanin cao, vị ngon hơn gà giống gà Ri ở miền Bắc và gà công nghiệp. Theo Trần Thị Mai Phương (2004), thịt gà Ác có giá trị dinh dưỡng cao và nhiều chất sắt hơn các loại thịt khác. Hàm lượng protein và acid amin cũng cao.
Độ hao hụt sau khi luộc là 19% so với 21% ở gà Ri và 26% ở gà công nghiệp. Độ pH sau khi giết mỗ 24 giờ là 5,9 – 6,4 (Trần Thị Mai Phương và Lê Thị Biên, 2007). Theo kết quả phân tích tại phòng thí nghiệm, gà Ác thành phần quày thịt và thành phần hóa học như sau: Bảng 2.1: Thành phần quày thịt (1) của gà Ác 4 tuần tuổi và mái loại Thông số 4 tuần tuổi ± SD Gà mái 10 tuần tuổi ± SD Khối lượng sống (g) 182,8±20,04 1300±105,83 Khối lượng quày thịt(2) (g) 105,4±13,44 771,8±79,17 Tỷ lệ (%) 57,57 59,40 Khối lượng ức (g) 22,76±59,68 194,26±27,00 Tỷ lệ (%) 21,58 25,17 Khối lượng thịt ức (g) 14,35±3,17 137,92±24,95 Tỷ lệ (%) 13,61 17,87 Khối lượng đùi (g) 31,80±4,22 223,99±32,10 Tỷ lệ (%) 30,16 29,02 Khối lượng thịt đùi (g) 19,34±2,99 158,68± 29,25 Tỷ lệ (%) 18,34 20,56 (1) Ghi chú: tỷ lệ ức, thịt ức, đùi và thịt đùi được tính từ cân nặng (g) *100/ khối lượng quày thịt (g); (2) Khối lượng quày thịt được xác định sau khi cắt tiết, bỏ lông và nội tạng. Thành phần hóa học của thịt gà Ác được phân tích tại phòng thí nghiệm Dinh Dưỡng, Bộ Môn Chăn Nuôi, Đại Học Cần Thơ như sau: 4 Bảng 2.2: Thành phần hóa học của thịt gà Ác Thông số Gà 1 tháng tuổi Gà 10 tháng tuổi Vật chất khô 27,24 28,50 Tro 1,46 1,20 Protein 22,88 21,28 Chất béo 2,11 5,13 Calci 0,37 0,38 Phospho 0,46 0,51 pH 5,07 6,25 Ghi chú: Ngọai trừ DM, các thành phần khác tính % trạng thái tươi.2 Vai trò của dưỡng chất Khẩu phần của gà bao gồm một số thực liệu như ngũ cốc, khô dầu nành, các phụ phẩm động vật, mỡ, premix khoáng, vitamin và nước uống.
Các thực liệu này là nguồn cung cấp các dưỡng chất thiết yếu đảm bảo hoạt động sống, sinh trưởng và sản xuất. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn được diễn tả trong thuật ngữ gọi là dưỡng chất như carbohydrat, protein, chất béo, khoáng, vitamin và nước. Năng lượng được dự trữ trong carbohydrat, protein và chất béo. Carbohydrat và chất béo là năng lượng chính, protein cũng cung cấp năng lượng, nhưng trong khẩu phần protein chủ yếu cung cấp acid amin.1 Vai trò protein Protein cùng các dưỡng chất khác như carbohydrate, chất béo, khoáng chất, vitamin và nước, cung cấp các dưỡng chất thiết yếu cho cuộc sống của động vật.
Protein là các hợp chất phức tạp, liên kết với nhau bằng nhiều acid amin gọi là liên kết peptid. Protein được thủy phân trong bộ máy tiêu hóa cho ra các acid amin, chất cấu thành cấu trúc của tế bào, cơ, lông, da, huyết tương, kháng thể và các chức năng đặc biệt của cơ thể (Pond et al., 1995; Van Emous et al. Một chiến lược dinh dưỡng tốt là giảm chi phí thức ăn trong khi vẫn đảm bảo tối đa hóa được năng suất sinh sản của gà như tỷ lệ đẻ, khối lượng và sản lượng trứng, đồng thời cũng giảm sự ô nhiễm môi trường (Keshavarz, 2003; Gunawardana et al., 2008; Alagawany and Mahrose, 2014).