Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ GIÁO VIÊN 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Shirley Fletcher (1995) với cuốn “Kỹ thuật đánh giá theo năng lực” đã xác định được một số nguyên tắc cơ bản, gợi ý về các phương pháp cũng như lợi ích của kỹ thuật đánh giá (ĐG) theo năng lực; đưa ra một số hướng dẫn cho những người làm công tác đào tạo hướng tới việc ĐG dựa trên công việc, đối với GV đánh giá cũng phải dựa trên nhiệm vụ, công việc của GV. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã xuất bản Mô hình Tiêu chuẩn năng lực Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho nhiều nghề.
Trong các bộ tiêu chuẩn này đều có hướng dẫn ĐG, các phương pháp ĐG nên được sử dụng, các chứng cứ kiến thức và kỹ năng cần thu thập cho việc ĐG mỗi đơn vị năng lực. Các nước Tiểu vùng Sông Mê Công đã sử dụng các bộ tiêu chuẩn này của ILO để thử nghiệm ĐG công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng nghề trong khu vực cho một số lĩnh vực nghề như công nghệ ô tô, hàn, phục vụ buồng khách sạn, trong đó đòi hỏi GV dạy nghề cũng phải có những kỹ năng nghề nghiệp, làm cơ sở cho việc ĐG, công nhận tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho GV.Braskamp coi ĐG như một hoạt động "ngồi bên nhau". Đánh giá là hình ảnh "các đồng nghiệp ngồi bên nhau, hỗ trợ nhau bằng cách đưa ra những nhận xét xây dựng, thiện chí, những gợi ý cho sự tiến bộ, sự cùng quan tâm tới lợi ích của tập trung và gìn giữ những giá trị của trường học”.Orey đã đề cập đến việc ĐG như sau: Nếu một trường học vừa mong muốn thúc đẩy sự phát triển của GV, vừa mong đáp ứng các mục tiêu phát triển của nhà trường thì việc đánh giá GV phải đáp ứng được mục tiêu kép này. Khái niệm ĐG như một hoạt động "ngồi bên nhau" nhấn mạnh đến tính nhân văn và tính xã hội của hoạt động ĐG.
Việc ĐG theo quan điểm trên bao gồm 3 hoạt động đan xen nhau: hình thành kết quả mong đợi hay xây dựng chuẩn cho công tác ĐG; thu nhập bằng chứng; sử dụng bằng chứng diễn ra trong tất cả các giai đoạn của quá trình ĐG. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Tác giả Nguyễn Đình Minh đã nghiên cứu và đưa ra một số khái quát về đánh giá GV trung học phổ thông: Đánh giá bao gồm cả việc thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng các thông tin về con người nói chung. Trong hoạt động ĐG, thông tin được thu thập, xử lý, phân loại - hay nói cách khác là thu thập các "bằng chứng" một yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu. Không có bằng chứng việc ĐG chỉ là những ý kiến cá nhân chưa đủ căn cứ để có thể đưa ra những kết luận về một vấn đề gì.
Hơn nữa công tác ĐG liên quan tới việc đưa ra nhận xét về những vấn đề quan trọng như giá trị, chất lượng, hiệu quả của hoạt động của GV trong mối tương quan tới số đông học sinh và các đồng nghiệp khác. Đánh giá hoạt động của GV: với cách hiểu đánh giá là "ngồi bên nhau" nhiều nhà nghiên cứu về công tác đánh giá giáo viên đã nhấn mạnh sự đan xen của nhiều yếu tố trong quá trình này. Xây dựng kết quả mong đợi hay chuẩn ĐG: chức trách của GV là rất phức tạp và đa dạng. Việc đánh giá GV do vậy phải phù hợp với sự phức tạp và đa dạng đó.
Để đánh giá GV một cách chân thực và hướng họ vào sự phấn đấu hoàn thiện nhất thiết phải xây dựng chuẩn cho việc ĐG. Đây là một việc làm phức tạp bao gồm xác định các loại hình công việc thuộc chức trách của 7 GV và xây dựng kết quả mong đợi từ các loại hình công việc ấy. Vì vậy trước hết phải mô tả đầy đủ công việc của GV, xác định tầm quan trọng của từng loại hình công việc cần được ĐG và người ĐG chúng. Hơn nữa khi xác định các hoạt động và kết quả mong đợi từ các hoạt động này phải tính đến lợi ích của cá nhân GV và của tập thể.
Theo Nguyễn Trọng Khanh thì ĐG hoặc kiểm tra đánh giá là một thành tố của quá trình dạy học, và việc kiểm tra đánh giá ngày càng được chú trọng, việc nghiên cứu theo hướng đổi mới phải góp phần nâng cao chất lượng giáo dục [9]. Theo Nguyễn Phương Nga “Thực trạng hiện nay trong các trường ĐH - CĐ của Việt Nam, GV được đánh giá chủ yếu bằng việc lên lớp đúng giờ, giảng đủ tiết, tham gia đầy đủ các cuộc họp, học Nghị quyết, sinh hoạt tập thể và không gây mất đoàn kết nội bộ sẽ được công nhận với mức thấp nhất là “hoàn thành tốt nhiệm vụ” và 3 năm tăng lương một lần” [22]. Như vậy, những GV thực sự đạt thành tích cao cũng không có chế độ phân biệt ưu tiên khác. Tuy nhiên, thực tiễn này đang từng bước được thay đổi.
Những năm gần đây các trường đại học cũng dần dần áp dụng những thành tựu trong đổi mới việc ĐG, khuyến khích cán bộ, GV nhà trường nâng cao thành tích giảng dạy. GV đạt danh hiệu những danh hiệu như GV dạy giỏi, thành tích trong NCKH sẽ được xét tặng, công nhận các danh hiệu mà nhà nước và ngành quy định như: lên lương trước thời hạn, giấy khen, bằng khen, huân chương. Tuy nhiên các danh hiệu đó vẫn bị khống chế về số lượng GV được xét tặng hay công nhận các danh hiệu nêu trên. Sự khống chế tỷ lệ khen thưởng này dẫn đến những bất cập trong công tác thi đua.
Việc xây dựng nên những tiêu chuẩn ĐG hiệu quả việc làm của GV và có chính sách thưởng, phạt tương ứng phù hợp với các kết quả GV đạt được theo các bằng chứng ĐG khách quan và có độ tin cậy cao là hết sức cần thiết. 8 Có thể nói, những nghiên cứu lý luận trên đây đã tập trung vào các lý luận cơ bản về đánh giá GV. Các công trình đã đề cập một số khái niệm cơ bản: đánh giá, đánh giá GV, nội dung đánh giá GV và tiêu chí kiểm tra, đánh giá GV. Mặc dù đánh giá GV đã có nghiên cứu, có sử dụng nhưng so với thực tế GD phát triển như hiện nay thì ĐG như thế là chưa đủ.
Chẳng hạn như đối với GVDN còn đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tế tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, do đó cần thiết phải đề xuất biện pháp đánh giá GVDN hiện nay. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN Với xu thế hội nhập và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có lực lượng lao động kỹ thuật cao đủ về số lượng và đạt về chất lượng. Do đó, nhiệm vụ của GDNN; các trường đào tạo trong hệ thống dạy nghề, phải tăng cường công tác quản lý và đẩy mạnh việc đổi mới hoạt động dạy và học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật. Nghị quyết 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã có quan điểm chỉ đạo “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [14].
Chất lượng đào tạo tại các trường nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực và phẩm chất của GVDN cần đặc biệt chú trọng, vì đó là thành tố đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo đảm chất lượng đào tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh nguồn nhân lực. Do đó, GVDN luôn được xã hội đặt rất nhiều kỳ vọng từ năng lực chuyên môn đến phẩm chất đạo đức. Khái niệm năng lực và phẩm chất 1. Năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc từ tiếng Latinh “compententia”, có nghĩa là gặp gỡ.
Theo tiếng Anh, “compententia” có nghĩa là năng lực hay 9 khả năng, hoặc còn có nghĩa là thẩm quyền. Ngày nay, khái niệm về năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [23] Năng lực bao gồm “các kiến thức, kỹ năng và bí quyết áp dụng và làm chủ được trong một bối cảnh cụ thể” [24]. Bộ Giáo dục Quebec Canada, trong cuốn Công nghệ Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, định nghĩa năng lực là “khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng tương ứng với ngưỡng quy định khi bước vào thị trường lao động”.
Theo từ điển tiếng Việt [tr 639], “năng lực” được hiểu là “khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” (khi đề cập tới năng lực của một đối tượng nào đó) hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” (khi đề cập đến năng lực con người). Hiện nay có rất nhiều khái niệm về năng lực. Tuy nhiên, qua nhiều khái niệm, có thể nhận thấy có hai nhóm quan niệm như sau: - Thuật ngữ “năng lực” là: Phẩm chất tâm lí và sinh lí của con người để đảm bảo thực hiện được một hoạt động nào đó, hoặc năng lực là tổng hợp của các kiến thức, kĩ năng và thái độ của một người để thực hiện tốt một công việc được giao. - Thuật ngữ “năng lực” hay còn gọi là “năng lực thực hiện”, cho rằng “Khái niệm năng lực thực hiện (competency) được hầu hết mọi người tương đối thống nhất định nghĩa là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra với từng nhiệm vụ, đối với công việc đó” [21] 10 Các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các cấp độ năng lực: - Năng lực bình thường: là mức khởi đầu, nó được hình thành trong quá trình đào tạo, thông qua thực tiễn sẽ được hoàn thiện và phát triển. - Tài năng: là mức độ cao của năng lực, thể hiện tính sáng tạo. Người ta muốn có tài năng trước hết phải có năng lực, vì nó là cơ sở để tài năng phát triển. - Thiên tài: là mức độ rất cao của năng lực, có tính độc đáo và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của toàn xã hội.