Chương 1 NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT 1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá năng lực dạy học của sinh viên chuyên ngành giáo dục thể chất 1. Đánh giá năng lực dạy học: Lý thuyết và Thực tiễn ở Việt Nam 1. Một số khái niệm về đánh giá, năng lực, năng lực dạy học.
* Khái niệm đánh giá Khái niệm đánh giá (Assessment) Đánh giá là hoạt động rất quan trọng không thể tách rời quá trình giáo dục đào tạo. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá trong giáo dục, mỗi khái niệm nhấn mạnh đến một khía cạnh cần đánh giá (tùy thuộc vào đối tượng đánh giá). Tất cả các thành tố của quá trình giáo dục đều được đánh giá. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “đánh giá” và được xét trên những góc độ rộng hẹp khác nhau: đánh giá nói chung, đánh giá trong giáo dục, đánh giá trong dạy học và đánh giá kết quả học tập.
Khái niệm đánh giá theo nghĩa chung nhất có thể kể ra một số định nghĩa sau: Theo quan niệm triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ thái độ. Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động [16]. Airasia (1997): Đánh giá là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định. Thuật ngữ “Assessment” trong tiếng Anh có thể bao gồm cả định tính như: quan sát, kiểm tra, đo lường và đánh giá mang tính định lượng như đánh giá bằng điểm số.
Trong giáo dục, đánh giá được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: Đánh giá trong giáo dục xuất hiện khi có một người tương tác trực tiếp với người khác nhằm mục đích thu thập và lí giải thông tin về kiến thức, hiểu biết, kĩ năng và thái độ của người đó [7]. Theo tổ chức đảm bảo chất lượng của Anh (QAA), đánh giá là việc thiết lập một quá trình đo kết quả học tập của sinh viên về các mặt kiến thức đạt 6 được, sự phát triển hiểu biết, những kĩ năng đạt được. Đánh giá cung cấp phương pháp, phương tiện để đánh giá sinh viên. Đánh giá đem lại thông tin giúp người đánh giá ra quyết định kỉ luật hay khen thưởng.
Đồng thời cung cấp cho sinh viên sự phản hồi kết quả học tập của họ và giúp họ nâng cao thành tích của mình. Ngoài ra nó còn đem lại thông tin để đánh giá người dạy. Theo Nguyễn Công Khanh [26], đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá (hiểu biết hay năng lực người học, chương trình, nhà trường.) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về đối tượng đánh giá hoặc để đưa ra các chính sách giáo dục. Từ phân tích các quan điểm khác nhau của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy, đánh giá trong giáo dục đều có chung một quan điểm là quá trình thu thập, xử lí thông tin từ đối tượng cần đánh giá nhằm cải thiện đối tượng theo chiều hướng tích cực hơn.
* Khái niệm năng lực Khoa học giáo dục trên thế giới cũng như trong nước đã có rất nhiều các tác giả, các nghiên cứu đưa ra định nghĩa năng lực theo những cách hiểu khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú. Theo tâm lý học: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Theo Từ điển giáo dục học: Năng lực là khả năng được hình thành hoặc phát triển cho phép một con người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ.
Ở Việt Nam, vấn đề năng lực cũng được đề cập bởi nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả: Theo Phạm Minh Hạc: Năng lực là đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có kết quả hoạt động đó[19]. Đinh Thị Hồng Minh [33] với quan điểm: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm. 7 Theo Vũ Xuân Hùng: “Năng lực là kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết, được kết hợp nhuần nhuyễn, không tách rời để thực hiện thành công những công việc nào đó” [tr17, 23]. Trên cơ sở các quan điểm về năng lực của các tác giả trong và ngoài nước.
Chúng tôi cho rằng: “Năng lực là khả năng kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện hiệu quả một hoạt động nào đó trong những bối cảnh nhất định”. * Khái niệm năng lực dạy học Khái niệm năng lực dạy học Theo chuẩn nghề nghiệp GV THPT số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 [1], NLDH là một trong những tiêu chuẩn của GV, NLDH là một năng lực tổng hợp của nhiều năng lực và là năng lực quan trọng cần thiết của GV, là một thành tố của năng lực sư phạm bao gồm: Xây dựng kế hoạch dạy học, sử dụng phương pháp dạy học, quản lý hồ sơ dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực sinh viên, xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường [1]. Vũ Xuân Hùng (2011) [tr18, 23], NLDH là kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết được kết hợp nhuần nhuyễn, không tách rời để thực hiện được các nhiệm vụ, công việc dạy học cụ thể theo chuẩn đặt ra, trong những điều kiện nhất định. Từ những quan điểm trên đây, trong bối cảnh đề tài, chúng tôi định nghĩa: “Năng lực dạy học của sinh viên ngành sư phạm là khả năng kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện hiệu quả hoạt động dạy học”.
Quan niệm về đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực sinh viên Hiện nay, có nhiều quan điểm về năng lực. Theo tổ chức OECD, năng lực được định nghĩa như khả năng đáp ứng hiệu quả yêu cầu phức tạp trong các ngữ cảnh cụ thể. Trong Chương trình Giáo dục Phổ thông mới năm 2018, năng lực được mô tả như một đặc điểm cá nhân được hình thành và phát triển thông qua tố chất có sẵn và quá trình học tập, rèn luyện. Nó cho phép con người kết hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như sự hứng thú, niềm tin, ý chí, để thành công trong các hoạt động cụ thể dưới các điều kiện đặc biệt.
Với những quan điểm này, đánh giá kết quả học tập theo hướng tiếp cận năng lực cần tập trung vào việc đánh giá khả năng sáng tạo và ứng dụng tri thức trong các tình huống thực tế. Nói một cách đơn giản, việc đánh giá theo năng lực 8 đồng nghĩa với việc đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên trong các ngữ cảnh có ý nghĩa. Đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với các môn học và hoạt động giáo dục không chỉ là cách để xác định mức độ đạt được mục tiêu đào tạo về kiến thức và kỹ năng, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của họ. Ở cấp độ cơ bản, không có sự mâu thuẫn giữa việc đánh giá năng lực và việc đánh giá kiến thức, kỹ năng.
Để chứng minh năng lực của một sinh viên ở mức độ nào đó, cần tạo điều kiện cho họ giải quyết vấn đề trong các tình huống thực tế. Trong quá trình này, họ không chỉ áp dụng những kiến thức và kỹ năng đã học tại trường, mà còn sử dụng những kinh nghiệm cá nhân từ các trải nghiệm ngoại khóa (tại gia đình, trong cộng đồng và xã hội) để giải quyết vấn đề thực tế. Điều này cho phép chúng tôiđánh giá được cả nhận thức, kỹ năng thực hiện và các giá trị, tình cảm của sinh viên. Hơn nữa, đánh giá năng lực không hoàn toàn phụ thuộc vào chương trình giáo dục của từng môn học như đánh giá kiến thức và kỹ năng.
Năng lực được xem xét như một tổng hợp, kết tinh của kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị và chuẩn mực đạo đức, mà hình thành từ nhiều môn học và lĩnh vực học tập khác nhau, cũng như từ sự phát triển tự nhiên xã hội của mỗi người học. Dưới đây là một số điểm khác biệt cơ bản giữa việc đánh giá năng lực của người học và việc đánh giá kiến thức, kỹ năng: Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung (kiến thức, kĩ năng) và đánh giá tiếp cận năng lực Đánh giá theo hướng Đánh giá theo hướng STT tiếp cận nội dung tiếp cận năng lực Các bài kiểm tra trên giấy được Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực 1 thực hiện vào cuối một chủ đề, hành, sản phẩm dự án, cá nhân, một chương, một học kì,. nhóm…) trong suốt quá trình học tập 2 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác Quan tâm đến đến phương pháp học Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng 3 tập, phương pháp rèn luyện của sinh của việc dạy học viên 4 Chú trọng vào điểm số Chú trọng vào quá trình tạo ra sản 9 Đánh giá theo hướng Đánh giá theo hướng STT tiếp cận nội dung tiếp cận năng lực phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến các chi tiết của sản phẩm để nhận xét Tập trung vào năng lực thực tế và sáng 5 Tập trung vào kiến thức hàn lâm tạo Đánh giá được thực hiện bởi các Giáo viên và sinh viên chủ động trong cấp quản lí và do giáo viên là chủ 6 đánh giá, khuyến khích tự đánh giá và yếu, còn tự đánh giá của sinh viên đánh giá chéo của sinh viên không hoặc ít được công nhận Đánh giá đạo đức sinh viên chú Đánh giá phẩm chất của sinh viên toàn trọng đến việc chấp hành nội quy diện, chú trọng đến năng lực cá nhân, 7 nhà trường, tham gia phong trào khuyến khích sinh viên thể hiện cá thi đua… tính và năng lực bản thân Bảng 1. Bảng so sánh đánh giá tiếp cận nội dung và tiếp cận năng lực 1.