CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ 1. Tổng quan nghiên cứu về đánh giá năng lực dạy học Vấn đề nghiên cứu đánh giá năng lực dạy học của người dạy được tiến hành bởi nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Dưới đây là phần trình bày một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực này. Hướng nghiên cứu về năng lực dạy học Một số nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu phát triển và nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên như tài liệu nghiên cứu "Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên" [18] của nhóm các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa.
Bên cạnh đó còn có các công trình của các tác giả như Đinh Quang Báo [18], Trần Kiểm [18], các công trình này nghiên cứu phát triển đội ngũ theo các hướng: 1) Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; 2) Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; 3) nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một số tác giả có cách tiếp cận khác nhau về năng lực và năng lực nghề nghiệp trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên như tác giả Trần Khánh Đức [5] đã đề xuất một số biện pháp mới cho công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đáp ứng nhu cầu của thời đại mới; Trong bài viết “Đánh giá năng lực dạy học của giáo viên tốt nghiệp khoa Tiếng Anh, Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM trong vòng 5 năm trở lại đây” (Từ 2007 - 2011), tác giả Nguyễn Kim Dung và Lê Thị Thu Liễu [6] đã đánh giá năng lực dạy học trên các mặt sau: năng lực chuyên môn, kĩ năng và phương pháp sư phạm, thái độ của giáo viên tiếng Anh. Trong đó, về năng lực chuyên môn được đánh giá ở hai tiêu chí là: mục tiêu bài giảng và nội dung bài giảng. Đối với kĩ năng và phương pháp sư phạm được đánh giá ở mặt sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.
Còn yếu tố thái độ được thể hiện ở tác phong sư phạm, sự công bằng của giáo viên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đi đến kết luận: giáo viên có kiến thức chuyên môn tốt, kĩ năng sư phạm của các GV cũng được đánh giá ở mức tương đối tốt. Còn tác phong sư 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm của giáo viên cũng cho thấy phần lớn các GV đều thể hiện sự tự tin, truyền cảm hứng học tập cho HS và có thái độ thân thiện, tích cực trong quá trình giảng dạy. Một số tác giả nghiên cứu về nâng cao năng lực dạy học cho giảng viên trẻ như trong bài viết “Nâng cao năng lực giảng dạy các môn lí luận chính trị cho giảng viên trẻ của các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đồng Thị Kim Xuyến và Phạm Công Thiện [22] đã chỉ ra rằng, nhìn chung, GV trẻ giảng dạy lí luận chính trị của các trường đại học ở Việt Nam hiện nay nắm chắc, hiểu sâu kiến thức chuyên ngành và liên ngành; hòa nhập nhanh hơn với cái mới, tiếp thu tốt hơn tri thức lí luận và thực tiễn.
Ngoài ra, giảng viên trẻ còn tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức nhiều hình thức lên lớp đa dạng, phong phú… Tuy nhiên, các tác giả nghiệp vụ sư phạm của giảng viên trẻ còn không ít hạn chế. Cách dạy còn nặng về các kĩ thuật trình chiếu, xem nhẹ các ý tưởng sư phạm, thiếu cuốn hút, thiếu liên hệ sâu sắc giữa giờ giảng với thực tiễn nghề nghiệp và ít truyền cảm hứng sáng tạo đến người học. Cùng với sự hạn chế về kiến thức thực tiễn và kinh nghiệm sống, một bộ phận giảng viên trẻ vẫn còn nặng truyền đạt kiến thức, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình, ít chú ý đến sự phản hồi thông tin ngược chiều của sinh viên. Phương pháp này làm cho sinh viên trở thành đối tượng thụ động, không phát huy được tính tích cực, chủ động, Ngoài hướng nghiên cứu về năng lực dạy học, đề tài tìm hiểu hướng nghiên cứu về giảng viên trẻ trong các trường quân đội.
Dưới đây sẽ trình bày nội dung này. Hướng nghiên cứu về giảng viên trẻ trong các trường quân đội Tác giả Nguyễn Văn Kiểm [11] trong bài viết “Bồi dưỡng tình yêu nghề cho giảng viên trẻ trong các trường Đại học Quân sự” đã chỉ ra rằng: đội ngũ giảng viên trẻ còn bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm kỉ luật, pháp luật Nhà nước, làm giảm niềm tin của học viên với giảng viên trẻ. Đồng thời, trước tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, nhất là ảnh hưởng của lối sống thực dụng đã làm cho một số giảng viên trẻ bị dao động tư tưởng, dẫn đến hiện tượng “bỏ nghề”, “chuyển nghề”, “thiếu nhiệt huyết” trong công việc, xói mòn phẩm chất nhân cách người giảng viên. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các biện pháp, trong đó có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp cần “Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp, tác phong công tác cho giảng viên trẻ”.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Đình Duyên [3] “Một số biện pháp phát triển định hướng giá trị nghề nghiệp sư phạm quân sự cho giảng viên trẻ ở các trường sĩ quan quân đội”, cũng chỉ rõ những hạn chế của đội ngũ giảng viên trẻ: cụ thể nhiều giảng viên trẻ chưa có nhận thức đúng đắn về nghề và các giá trị của nghề nghiệp sư phạm quan sự; chưa tự giác, tích cực tu dưỡng, rèn luyện nghề nghiệp; một số giảng viên trẻ còn thiếu tâm huyết, không có lí tưởng nghề nghiệp. Trên cơ sở thực trạng đã nêu, tác giả đề xuất 5 biện pháp phát triển nghề nghiệp cho giảng viên trẻ ở các trường sĩ quan quân đội, trong đó có biện pháp là: nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cho giảng viên trẻ trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến năng lực chuyên môn, năng lực dạy học của các giảng viên nói chung và giảng viên các trường đại học quân sự nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về năng lực dạy học cho giảng viên trẻ trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp.
Vì thế, đây là khoảng trống cần nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên như Chiến lược phát triển GD-ĐT trong quân đội giai đoạn 2011-2020 đã xác định: “… đội ngũ nhà giáo quân đội hiện nay đã có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm tốt… Tuy nhiên, trình độ, năng lực của một bộ phận nhà giáo còn thấp so với yêu cầu, nhiệm vụ; chất lượng đội ngũ nhà giáo quân đội còn có khoảng cách so với Chuẩn quốc gia và thực tiễn phát triển GD-ĐT quân đội”[3]. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đo lường Có nhiều quan điểm khác nhau về đo lường trong giáo dục, theo tác giả Lê Đức Ngọc: Đo lường (Measurement) là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng (số đo) về các đại lượng đặc trưng của đào tạo năng lực (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) trong quá trình giáo dục. Khái niệm đánh giá Khái niệm “Đánh giá” (Evaluation) theo tác giả Lê Đức Ngọc [14] là việc căn cứ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào các số đo và các tiêu chí xác định, đánh giá năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo.
Đánh giá có thể là định lượng dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị. Khái niệm kiểm tra đánh giá Trong lịch sử ngành đo lường và đánh giá trong dạy học có rất nhiều khái niệm, cách tiếp cận khác nhau, theo tác giả Lê Đức Ngọc [14], kiểm tra/lượng giá (Assessment) là việc đánh giá năng lực hoặc phẩm chất của sản phẩm đào tạo trong quá trình giáo dục theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nào đó, căn cứ vào các thông tin định tính hoặc định lượng (số đo). Lượng giá có thể thực hiện đầu quá trình giảng dạy để giúp tìm hiểu và chẩn đoán (diagnostic) về đối tượng giảng dạy, có thể triển khai trong tiến trình (formative) giảng dạy để tạo những thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học, cũng có thể thực hiện lúc kết thúc (summative) để tổng kết. Trong giảng dạy ở nhà trường, các đo lường trong tiến trình thường gắn chặt với người dạy, tuy nhiên các đo lường kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi người dạy.
Khái niệm năng lực và năng lực dạy học 1. Khái niệm năng lực: Trong những năm gần đây, khái niệm năng lực được sử dụng rất nhiều theo tính chất, yêu cầu nhiệm vụ công việc, được thể hiện bằng kết quả công việc. Năng lực còn được hiểu là sự kết hợp giữa khả năng cá nhân, thông qua sự hiểu biết với kỹ năng tốt và thái độ bản thân. Nói đến năng lực là việc cá nhân hay nhóm làm được việc, hoàn thành được nhiệm vụ được giao.
Theo tác giả Trần Khánh Đức [5] đã nêu rõ năng lực là: “Khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin,.) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”. Tác giả Vũ Dũng [4] coi năng lực là “tổ hợp các thuộc tính tâm lí độc đáo hay các phẩm chất tâm lý của cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hành 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau (điều kiện hoạt động, vốn kiến thức ban đầu, kinh nghiệm…).