Chương 1: Mở dau. Trình bay tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của đề tải. 3 Chương 2: Tổng quan. Trình bày sơ lược một số bai nghiên cứu có liên quan va địa ban nghiên cứu.
Giới thiệu về các tài liệu nghiên cứu bao gồm những tài liệu liên quan đến mức sẵn lòng trả sử dụng túi nylon tự hủy và phương pháp sử dụng trong nghiên cứu; giới thiệu địa bàn nghiên cứu bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trình bày một số khái niệm, nội dung nghiên cứu chính của đề tài. Đưa ra phương pháp đề tiến hành nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập số liệu, thống kê mô tả, xử lý số liệu, định giá ngẫu nhiên và phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận. Trình bày, tổng hợp các kết quả và đưa ra một số ý kiến thảo luận thực tiễn dựa trên kết quả thu được. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và từ đó đề xuất một số đề nghị, giải pháp, khuyến cáo dé giải quyết những hạn chế, khó khăn đó.
CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tông quan tài liệu nghiên cứu 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài Yan Li và các cộng sự (2016) thực hiện xu hướng hành vi tiêu dùng xanh ở các thành phố tiêu biểu ở Trung Quốc. Tác giả đã thực hiện khảo sát ở 4 thành phố là Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán và Thâm Quyến (khảo sát 2.965 mẫu hợp lệ sau khi đã sàng lọc) và sử dụng mô hình hồi quy logistic.
Kết quả cho thấy, người tiêu dùng Trung Quốc đã nhận thức được tiêu dùng xanh và hầu hết họ sẵn lòng trả mức phí bảo hiểm đưới 5% cho các sản phâm xanh va hơn một nửa người trả lời phỏng vấn đều cho rang giá sản phẩm xanh quá cao và tỷ lệ phí bảo hiểm xanh thực tế cao hon mức san lòng trả của người tiêu dùng nên hạn chế việc chấp nhận tiêu dùng xanh ở Trung Quốc. Saima Rani và cộng sự (2018) đã phân tích các yêu tô ảnh hưởng đến việc sẵn lòng trả giá cao cho rau hữu cơ bằng cách sử dụng đữ liệu về sở thích của người tiêu dùng từ các nguồn chính từ Islamabad ở Pakistan. Các yếu tố quyết định mức độ sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng được ước tính bang cách sử dung mô hình probit. Mô hình chứa thông tin về đặc điểm kinh tế - xã hội, nhận thức, sở thích về rau hữu cơ và các thuộc tính của sản phẩm.
Các kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng tuổi tác, tinh trạng việc làm, thu nhập, học van, số trẻ em, mùi vị, không tồn dư hóa chất, giá trị dinh dưỡng cao, độ tươi và màu sắc của rau có tác động tích cực đến việc người tiêu dùng trả giá cao. Trong đó, có trường hợp kích thước và hình dạng sản phẩm có ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng. Kết qua chỉ ra rằng khi lựa chọn thực phẩm, người tiêu dùng 6 Islamabad ưu 5 tiên sức khỏe của họ. Hơn nữa, những hộ gia đình có nguồn thu nhập cao hơn nhận thấy được những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe từ việc sử dụng hóa chất, thì họ sẽ sẵn lòng trả giá cao cho một loại rau hữu cơ.
Ma (2018) đã nghiên cứu điều tra mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của người tiêu dùng Trung Quốc đối với thịt lợn được đặc trưng bởi bốn thuộc tính đó là chứng nhận an toàn thực pham, địa điểm xuất xứ, nhãn “không có dư lượng thuốc thú y” và gia cả dựa trên thử nghiệm lựa chọn được thực hiện giữa 844 người tiêu dùng từ các tỉnh Giang Tô và An Huy, Trung Quốc. Mô hình Logit Tham số Ngẫu nhiên được ước tính dé tính WTP của người tiêu dùng. Kết qua cho thấy WTP của người tiêu dùng Giang Tô đối với thịt lợn có chứng nhận “Thực phẩm hữu cơ” (26,78 nhân dân tệ) là cao nhất trong số tất cả các thuộc tính, tiếp theo là chứng nhận “Thực phẩm xanh” (20.22 nhân dân tệ), nhãn “không có dư lượng thuốc thú y” (23,18 nhân dân tệ), vị trí xuất xứ (12,77 nhân dân tệ) va chứng nhận “thực pham an toàn” (8,10 nhân dân tệ). Ngoài ra, những người trả lời từ khu vực phát triển hơn (ví dụ: Giang Tô) có WTP cao hơn đáng kể cho tat cả các thuộc tính so với những người trả lời từ An Huy, một khu vực kém phát triển hơn.
Mô hình logit tham số ngẫu nhiên cho thấy trình độ học vấn tốt hơn và thu nhập cao hơn là hai yếu tố có liên quan đến WTP cao hơn. Các khuyến nghị chính về chính sách là can nâng cao nhận thức của cộng đồng về các hình thức xác minh khác nhau và việc cấp phép chứng nhận phải được thực thi nghiêm ngặt để thực phẩm có chứng nhận luôn phản ánh tiêu chuẩn đang được tuân thủ. Ana Ruiz — Frau (2022) thực hiện tác động của sự hiện diện của sửa đối với sự lựa chọn điểm đến kỳ nghỉ của khách du lịch và mức độ sẵn lòng chi trả của họ cho các biện pháp giảm thiêu. Tác giả nghiên cứu tập trung ở biển Địa Trung Hải, khảo sát ngẫu nhiên 496 người (khách quốc gia và khách du lịch) và sử dụng phương pháp thử nghiệm lựa chọn rời rac đã áp dụng dé đánh giá mức sẵn lòng trả của khách du lich cho các biện pháp khác nhau.
Kết qua cho thấy rang, nếu không tăng cường biện pháp quan lý giảm số lượng sứa thì số lượng khách du lịch sẽ giảm từ 24 xuống 40%. Do đó, cần áp dụng kế hoạch quản lý stra như cung cap thông tin, sự hiện diện của nhân viên cứu hộ va dịch vụ y tế, triển khai các hệ thống cảnh báo sớm đề thúc đây ý thức an toàn cho khách du lịch. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Đặng Thanh Tùng và các cộng sự (2018) đã nghiên cứu về nhận thức và mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với trái cây nhập khẩu đảm bảo an toàn thực phẩm. Nghiên cứu đã điều tra khảo sát ngẫu nhiên 407 người tiêu dùng tại TP.HCM ở quận 1, quận 3, quận 9 và quận Thủ Đức.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên double-bounded (CVM). Kết quả khảo sát cho thấy, người tiêu dùng rất lo ngại về thực trạng không an toàn của trái cây bán trên thị trường và họ cũng chưa an tâm đối với các biện pháp tự đảm bảo an toàn khi sử dụng trái cây. Kết quả ước lượng bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên double-bounded cho thấy, người tiêu dùng sẵn lòng trả thêm 28,25 nghìn VNĐ/kg cho trái cây nhập khẩu được đảm bảo an toan thực phẩm. Mức san lòng trả khá cao này cho thấy chính sách đảm bảo an toàn thực phẩm đối với trái cây nhập khẩu có thé được thực thi trong thực té.
Nguyễn Văn Hiếu và các cộng sự (2019) thực hiện nghiên cứu ước lượng mức sẵn lòng trả của khách du lịch tại Vườn quốc gia Ba Vì. Tác giả sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nghiên (CVM) và trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp thực nghiệm lựa chọn và có 83 phiếu phỏng van trả lời đầy đủ (53 khách tham quan và 50 khách vừa tham quan vừa lưu trú). Kết quả cho thấy, mức sẵn lòng trả của du khách thông qua việc tăng giá vé tham quan là 37.000 đồng/người (tương đương 61% giá vé hiện tại) và 181.000 đồng/người thông qua việc tăng giá phòng lưu trú (tương đương 24% giá phòng hiện tại). Đây là cơ sở thực tiễn và khoa học cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng và giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra mức thu tối ưu và với mức thu trong bài nghiên cứu này là 1% tổng doanh thu từ hoạt động bán vé và kinh đoanh lưu trú, tổng nguồn thu sẽ đạt trên 167.
Vũ Thị Ánh Ngọc và các cộng sự (2020) thực hiện nghiên cứu khảo sát, đánh giá mức săn lòng trả giảm thiêu rủi ro và sức khỏe trong hoạt động sản xuât rau ở địa bàn 7 huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này tác giả điều tra khảo sát ngẫu nhiên 60 hộ; trong đó, 30 hộ trồng rau VietGap và 30 hộ trồng rau thông thường và sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM). Kết quả cho thấy, các biến khuyến nông, thu nhập, lượng thuốc BVTV nhómI và II, số lần tiếp xúc thuốc BVTV nhómI và II, biến giả GAP đều có ý nghĩa thống kê và mô hình giải thích được 86% sự biến thiên mức sẵn lòng trả của nông dân.
Nghiên cứu này tác giả đã đề xuất một số giải pháp để giảm thiểu rủi ro môi trường, sức khỏe cho nông dân trực tiếp phun thuốc trong các hoạt động sản xuất rau và chính quyền cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh, phân phối thuốc BVTV ở các cửa hang bán lẻ và tạo điều kiện cung ứng sản phẩm thuôc bảo vệ môi trường và an toàn sinh học cho cộng đông. Nguyễn Thị Khánh Ly và Lê Hoài Thu (2020) đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 330 người tại thành phố Hạ Long. Tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu và phương pháp thống kê mô tả nhằm mục đích nghiên cứu thái độ của người dân thành phố Hạ Long đối với việc sử dụng sản phẩm nhựa đùng một lần. Kết quả dự án cho thấy, việc người dân sử dụng sản phẩm nhựa một lần ngày càng tăng, sử dụng túi nylon 30-45 tú/ngày.
Bên cạnh đó, thái độ tự giác phân loại của người dân và các hộ kinh doanh chỉ đạt mức trung bình, chiếm 70% tổng số dân trên địa bản. Tỷ lệ người dân tái chế và tái sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần tương đối ít chiếm 5-20%. Qua đó, ta thấy thành phó Hạ Long cần phải tăng cường triển khai các chương trình giáo dục truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, phù hợp với từng đặc điểm đối tượng. Vấn đề phân loại rác thải tại nguồn cần được ưu tiên giải quyết dé kiểm soát được lượng rác thải nhựa trôi dat ra biển gây suy thoái hệ sinh thái biển và kinh tế khu vực.
Nguyễn Thùy Trang và các cộng sự (2022) nghiên cứu mức sẵn lòng trả cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ lục bình chuẩn hóa OCOP của người tiêu dùng TP. Tác giả điều tra ngẫu nhiên 101 người phỏng van và khảo sát 2 quận (Ninh Kiều, Cái Răng) và 1 huyện (Phong Điền).