Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Đánh giá mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam đối với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Hà thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9310105), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thanh Hà và TS. Dương Đình Giám, bảo vệ năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) được xem là hạt nhân của nền sản xuất xã hội và đóng vai trò trung tâm qua các cuộc cách mạng công nghiệp từ nửa cuối thế kỷ 18 đến nay. Trong tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam, ngành công nghiệp CBCT giữ vị trí trọng yếu:

  • Năm 2021, ngành CBCT chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế với tỷ lệ gần 27,0%, đồng thời là ngành đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng VA cả nước thời kỳ 2011–2020 (đạt 35,0%).
  • Ngành thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội lớn nhất hàng năm, riêng năm 2021 chiếm 24,46% tổng vốn đầu tư xã hội của cả nước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lũy kế đến tháng 12/2021 đạt 15.571 dự án (chiếm 39,8% tổng dự án còn hiệu lực) với tổng vốn đăng ký đạt 248,7 tỷ USD (chiếm trên 59,2% tổng vốn FDI của cả nước).
  • Về lao động, ngành giải quyết việc làm cho 22,8% tổng số lao động đang làm việc của cả nước vào năm 2021, chỉ đứng sau khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Dù giữ vị trí trụ cột, theo tiêu chuẩn phân loại của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO, Upadhyaya 2013) dựa trên chỉ tiêu Giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân đầu người (MVApc), Việt Nam vẫn chưa nằm trong nhóm nền kinh tế đã công nghiệp hóa (trong khu vực ASEAN, Singapore và Malaysia đã đạt ngưỡng này). Nhiều báo cáo đánh giá của các tổ chức và học giả (Nguyễn Đức Thành và Ohno 2018; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UNDP 2019; Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2016; OECD và WB 2014; WB 2022) phản ánh trình độ công nghệ của ngành CBCT Việt Nam vẫn thấp hơn các quốc gia như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Trung Quốc. Mô hình sản xuất chủ yếu thâm dụng lao động, đối mặt với nguy cơ mất việc làm khi các công nghệ tự động hóa của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) được áp dụng trên quy mô lớn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trong và ngoài nước trước đây chủ yếu đánh giá mức độ sẵn sàng đối với CMCN 4.0 ở cấp độ toàn bộ nền kinh tế (vĩ mô chung) hoặc ở cấp độ vi mô doanh nghiệp thông qua khảo sát mẫu nhỏ; chưa có nhiều công trình lượng hóa mức độ sẵn sàng riêng cho ngành công nghiệp CBCT Việt Nam ở cấp vĩ mô có khả năng đối sánh đồng thời theo không gian (với các nhóm nước trên thế giới) và theo thời gian (theo chuỗi năm).

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 dựa trên một bộ chỉ số đo lường ở cấp độ vĩ mô, có căn cứ khoa học, có khả năng đối sánh quốc tế và có khả năng áp dụng thực tiễn; từ đó đề xuất các giải pháp mang hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng của ngành đến năm 2030.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Hoàn thiện khung lý thuyết đo lường mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam đối với CMCN 4.0.
    • Mục tiêu 2: Xây dựng các tiêu chí cùng với các chỉ tiêu/chỉ số đo lường mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam đối với CMCN 4.0.
    • Mục tiêu 3: Phân tích, đánh giá mức độ sẵn sàng đối với CMCN 4.0 của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam (có đối sánh với quốc tế) dựa trên các tiêu chí và các chỉ tiêu, chỉ số đã được xây dựng.
    • Mục tiêu 4: Xác định các ngưỡng mức độ sẵn sàng của ngành CBCT ở Việt Nam đối với CMCN 4.0.
    • Mục tiêu 5: Từ những kết quả đánh giá và kinh nghiệm quốc tế, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam để đáp ứng CMCN 4.0.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Các vấn đề lý luận cơ bản về CMCN 4.0 và về mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT đối với CMCN 4.0 là gì?
  2. Mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT đối với CMCN 4.0 ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  3. Cần có giải pháp nào nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam đối với CMCN 4.0?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam đối với CMCN 4.0.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung xây dựng bộ chỉ số vĩ mô đánh giá mức độ sẵn sàng dựa trên 5 nhóm tiêu chí (trụ cột): (i) Vị trí, vai trò của ngành công nghiệp CBCT trong nền kinh tế; (ii) Mức độ sẵn sàng về nhân lực; (iii) Mức độ sẵn sàng về doanh nghiệp; (iv) Mức độ sẵn sàng về công nghệ; (v) Mức độ sẵn sàng về thể chế.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu ngành CBCT Việt Nam trên bình diện vĩ mô toàn quốc (bao gồm khu vực nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân trong nước). Nhằm phục vụ đối sánh quốc tế, tác giả lựa chọn 19 nền kinh tế đại diện cho các nhóm trình độ phát triển và vị trí địa lý, ưu tiên các nước ASEAN, G-20 (bao gồm nhóm BRIC) và các nền kinh tế Đông Âu chuyển đổi. Danh sách gồm 20 nền kinh tế: Việt Nam, Hoa Kỳ, Nga, Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Ấn Độ.
  • Phạm vi thời gian: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp CBCT Việt Nam được đánh giá trong giai đoạn 2011–2020. Việc đo lường, tính toán điểm số mức độ sẵn sàng của ngành CBCT được thực hiện trong giai đoạn 2015–2020 (do khái niệm CMCN 4.0 phổ quát từ sau diễn đàn WEF 2016 và dữ liệu thống kê quốc tế có tính liên tục trong giai đoạn này). Định hướng và giải pháp được đề xuất cho giai đoạn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước

Luận án phân loại các tài liệu nghiên cứu đã công bố theo ba cấp độ tiếp cận và hướng phân tích các yếu tố tác động:

Cấp độ tiếp cận Tác giả / Tổ chức Nội dung và khung đánh giá chính
Vĩ mô Roland Berger (2014) Xây dựng Chỉ số Mức độ sẵn sàng Công nghiệp 4.0 gồm 2 trụ cột: Sự ưu việt của ngành công nghiệp và Mạng lưới giá trị; phân nhóm các quốc gia châu Âu thành 4 nhóm: Vượt trước, Tiềm năng, Cổ điển và Tụt hậu.
Faarup và Faarup (2017) Đề xuất 7 trụ cột với 23 chỉ tiêu, sử dụng hàm hồi quy phi tuyến dạng mũ để hiệu chỉnh điểm số; phân chia các nền kinh tế thành 9 nhóm (Việt Nam được xếp vào nhóm số 8 - mức sẵn sàng thấp).
WEF (2018a) Khung đánh giá Nền sản xuất tương lai gồm 2 khối lớn: Cấu trúc của nền sản xuất (40%) và Động lực của nền sản xuất (60%), bao quát 8 trụ cột và 59 chỉ số; phân thành 4 nhóm: Dẫn đầu, Di sản, Tiềm năng cao và Sơ khởi.
The Economist (2018) Chỉ số sẵn sàng tự động hóa (Automation Readiness Index) cho 25 quốc gia, gồm 3 trụ cột: Môi trường đổi mới (40%), Chính sách giáo dục (40%) và Chính sách thị trường lao động (20%), chuẩn hóa thang điểm 100.
Naude, Surdej, Cameron (2019) Đánh giá ngành CBCT của 8 nước Trung và Đông Âu dựa trên 3 trụ cột năng lực có trọng số bằng nhau: Năng lực công nghệ, Năng lực quản trị và Năng lực doanh nghiệp.
Portulans Institute (2016, 2019, 2020) Chỉ số sẵn sàng mạng lưới (NRI) gồm 4 trụ cột: Công nghệ, Con người, Quản trị và Tác động với 60 chỉ tiêu thành phần.
CISCO (2020) Đánh giá mức độ sẵn sàng số hóa qua 7 trụ cột với 25 chỉ tiêu; phân thành 3 giai đoạn phát triển: Kích hoạt, Tăng tốc và Khuếch đại.
WIPO (2015–2020) Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) gồm 7 trụ cột và 81 chỉ tiêu, phản ánh các yếu tố thể chế, nhân lực, hạ tầng, thị trường, doanh nghiệp và tri thức.
Anbumozhi, Ramanathan, Wyes (2019) Kết hợp đánh giá mức độ sẵn sàng CMCN 4.0 với kinh tế tuần hoàn tại các nước ASEAN dựa trên 3 khối: Hiệu quả sản xuất vi mô, Thể chế chính sách vĩ mô và Vấn đề liên ngành.
Sung (2017) Đánh giá mức độ sẵn sàng của Hàn Quốc dựa trên việc lượng hóa và so sánh dữ liệu chỉ số năng lực cạnh tranh của WEF, IMD và UBS so với 24 nước dẫn đầu.
Trung mô Nick và Pongrácz (2016) Bộ chỉ số hỗn hợp cấp vùng gồm 3 tiêu chí và 10 chỉ số đánh giá theo mô hình 4 cấp độ và mô hình xoắn kép giữa chính quyền, doanh nghiệp, người dân và viện nghiên cứu.
Abonyi, Czvetkó, Honti (2020) Bộ chỉ số đo lường mức độ sẵn sàng của các vùng thuộc EU gồm 5 nhóm tiêu chí với 22 chỉ tiêu (giáo dục đại học, thị trường lao động, đổi mới sáng tạo, công nghệ và đầu tư).
Vi mô SEDB Singapore, Medina (2022) Chỉ số sẵn sàng công nghiệp thông minh (SIRI) gồm 3 khối (Quy trình, Công nghệ, Tổ chức), 8 trụ cột và 16 chiều đánh giá.
Lichtblau và cs. (2015) Mô hình IMPULS/VDMA của Đức đánh giá doanh nghiệp qua 6 chiều cạnh, phân thành 6 cấp bậc mức độ sẵn sàng: Không tham gia, Mới tham gia, Trung bình, Kinh nghiệm, Chuyên gia và Ưu tú. Mô hình này được Bộ Công Thương và UNDP (2019) ứng dụng khảo sát doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam.
PwC (2016, 2018), Schumacher và cs. (2016), Basl (2016, 2017, 2018) Các mô hình tự đánh giá dựa trên khung CMM, RAMI 4.0, SIMMI 4.0 đo lường từ 3 đến 9 chiều cạnh quản trị, công nghệ số và tích hợp hệ thống.
Yếu tố ảnh hưởng McKinsey (2018), Popkova và cs. (2019) Khẳng định các động lực vĩ mô: sự phối hợp ba bên (khu vực tư nhân, cơ sở nghiên cứu đào tạo, khu vực công), kinh tế tri thức, hạ tầng số và môi trường văn hóa chấp nhận rủi ro.
Rojas-Berrio và cs. (2022), Vchorta và cs. (2019), Propris và Bailey (2020), Khin và Kee (2022) Khảo sát thực nghiệm xác định các nhóm rào cản và trợ lực tại doanh nghiệp: trình độ kỹ năng nhân lực, rủi ro tài chính, nhận thức của lãnh đạo và mức độ hội nhập quốc tế.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận thấy các nghiên cứu vĩ mô hiện hữu (như WEF 2018a; Naude, Surdej, Cameron 2019) chủ yếu sử dụng các chỉ tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế để gán cho mức độ sẵn sàng của ngành sản xuất, thiếu các chỉ tiêu phản ánh trực diện quy mô, tốc độ và năng suất lao động riêng của ngành CBCT. Ngược lại, các nghiên cứu vi mô phụ thuộc vào điều tra bảng hỏi, không thể bao quát trên bình diện quốc gia theo chuỗi thời gian nhiều năm.

Do đó, luận án định vị giải quyết khoảng trống này bằng cách: thiết lập một hệ thống chỉ số vĩ mô tích hợp, kết hợp các chỉ tiêu đặc thù của ngành công nghiệp CBCT với các chỉ tiêu phản ánh môi trường phát triển chung của nền kinh tế; áp dụng phương pháp chuẩn hóa dữ liệu đồng nhất để tính điểm cho 20 quốc gia theo chuỗi thời gian 6 năm liên tục (2015–2020).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm CMCN 4.0: Luận án sử dụng thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" và "Công nghiệp 4.0" với hàm nghĩa tương đương, phản ánh sự tích hợp của các hệ thống thực - ảo (CPS), Internet vạn vật (IoT), tự động hóa nâng cao, dữ liệu lớn và các công nghệ kỹ thuật số vào quy trình sản xuất vật chất.
  • Khái niệm về mức độ sẵn sàng: Sự chuẩn bị và khả năng thích ứng của một hệ thống kinh tế hoặc một ngành công nghiệp để hấp thụ, khai thác và chuyển hóa các thành tựu của cuộc cách mạng mới vào hoạt động thực tiễn.
  • Khung phân tích mức độ sẵn sàng ngành công nghiệp CBCT: Được xây dựng thành 5 trụ cột với nguyên tắc trọng số bằng nhau (mỗi trụ cột chiếm 20% tổng điểm số), các chỉ tiêu thành phần trong từng trụ cột cũng có trọng số bình đẳng:
    1. Trụ cột 1: Tầm quan trọng của ngành chế biến, chế tạo trong nền kinh tế.
    2. Trụ cột 2: Mức độ sẵn sàng về nhân lực.
    3. Trụ cột 3: Mức độ sẵn sàng về doanh nghiệp.
    4. Trụ cột 4: Mức độ sẵn sàng về công nghệ.
    5. Trụ cột 5: Mức độ sẵn sàng về thể chế.

Phương pháp nghiên cứu

  • Cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận hệ thống và tổng thể (đặt ngành CBCT trong mối quan hệ với nền kinh tế và bối cảnh quốc tế); tiếp cận đối sánh (so sánh không gian giữa 20 nước và thời gian từ 2015 đến 2020); tiếp cận nhân quả (suy xét căn nguyên từ thực trạng để kiến tạo giải pháp); tiếp cận vĩ mô (dựa trên các biến số thống kê tổng hợp ở quy mô quốc gia).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và quy nạp - diễn giải: Sử dụng để xử lý hệ thống tài liệu lý thuyết, xâu chuỗi các mô hình đánh giá và rút ra các nhận định tổng quát tại phần tiểu kết mỗi chương.
  • Phương pháp phân nhóm chỉ tiêu: Chọn lọc và tích hợp 31 chỉ tiêu vĩ mô từ các cơ sở dữ liệu quốc tế có uy tín (kế thừa từ Roland Berger, Faarup và Faarup, WEF, Portulans, WIPO và UNIDO).
  • Phương pháp chuẩn hóa và tính điểm: Do các biến số có đơn vị đo lường khác nhau (tỷ lệ %, USD, điểm xếp hạng, số lượng), luận án sử dụng công thức chuẩn hóa min-max đưa toàn bộ giá trị về thang đo từ 0 đến 10 (trong đó 10 là mức tốt nhất và 0 là mức thấp nhất trong nhóm 20 nước đối sánh):

$$x' = \frac{x - \min(x)}{\max(x) - \min(x)} \times 10$$

Trong đó:

  • $x'$ là giá trị điểm số quy đổi của chỉ tiêu.
  • $x$ là giá trị thực tế của chỉ tiêu tại quốc gia nghiên cứu.
  • $\min(x)$ và $\max(x)$ là giá trị thấp nhất và cao nhất của chỉ tiêu đó trong tập hợp 20 nền kinh tế đối sánh.

Điểm số của từng trụ cột là trung bình cộng điểm số của các chỉ tiêu thành phần thuộc trụ cột đó. Điểm tổng thể mức độ sẵn sàng là trung bình cộng điểm số của 5 trụ cột.

  • Phương pháp chuyên gia: Tác giả khảo sát ý kiến trực tiếp bằng bảng hỏi đối với các chuyên gia có học vị tiến sĩ, có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực kinh tế, công nghiệp, khoa học công nghệ và môi trường. Kết quả khảo sát chuyên gia được sử dụng để phân định các ngưỡng phân hạng mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT đối với CMCN 4.0.

Nguồn tư liệu và hệ thống chỉ tiêu

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc (UNSD), UNCTAD, UNIDO, Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), Viện Portulans, Tạp chí The Economist.

Hệ thống 31 chỉ tiêu thành phần thuộc 5 trụ cột đo lường của luận án gồm có:

  1. Trụ cột 1 (5 chỉ tiêu): Tỷ trọng ngành CBCT trong nền kinh tế (%); Đóng góp của ngành CBCT cho tăng trưởng kinh tế (%); Giá trị gia tăng ngành CBCT bình quân đầu người (MVApc, theo PPP USD); Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp (%); Tỷ trọng của ngành CBCT trong tổng kim ngạch xuất khẩu (%).
  2. Trụ cột 2 (7 chỉ tiêu): Số năm đi học bình quân; Tỷ lệ người đăng ký học đại học trong độ tuổi (%); Đầu tư cho giáo dục (% GDP); Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học kỹ thuật (%); Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai - R&D (% GDP); Xếp hạng đại học theo QS tốp 3 (điểm số); Chỉ số lao động tri thức.
  3. Trụ cột 3 (5 chỉ tiêu): Năng suất lao động trong ngành công nghiệp (USD); Tỷ lệ doanh nghiệp có trang web (%); Doanh nghiệp mới trên 1.000 dân trong độ tuổi 15–64; Số lượng doanh nghiệp Forbes 2000 trên 1 triệu dân; Thực trạng phát triển cụm liên kết ngành (cluster).
  4. Trụ cột 4 (10 chỉ tiêu): Thuê bao di động đăng ký/100 dân; Thuê bao băng thông rộng cố định/100 dân; Tỷ lệ dân số sử dụng internet (%); Tỷ trọng giá trị ngành CBCT công nghệ trung bình và cao (% toàn ngành công nghiệp); Tỷ trọng xuất khẩu công nghiệp CBCT công nghệ cao (% xuất khẩu toàn ngành); Đơn đăng ký bằng sáng chế của cư dân trong nước/1.000 dân; Mật độ rô-bốt công nghiệp; Đơn đăng ký ứng dụng thiết kế công nghiệp/1.000 dân; Bài báo khoa học kỹ thuật đăng tạp chí quốc tế/1.000 dân; Chỉ số an toàn bảo mật internet/1 triệu dân.
  5. Trụ cột 5 (4 chỉ tiêu): Liên kết hợp tác R&D giữa trường đại học và ngành công nghiệp; Thể chế chung cho đổi mới sáng tạo; Sự hiện hữu của chiến lược, chính sách tổng thể cho CMCN 4.0; Sự hiện hữu của chiến lược, chính sách cụ thể cho ngành công nghiệp CBCT.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương này thực hiện tổng hợp có hệ thống các tài liệu học thuật trong và ngoài nước liên quan đến mức độ sẵn sàng đối với CMCN 4.0. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành ba phân tầng: tiếp cận vĩ mô (toàn bộ nền kinh tế), tiếp cận trung mô (vùng kinh tế, địa phương), và tiếp cận vi mô (doanh nghiệp và phân ngành hẹp). Đồng thời, chương 1 rà soát các nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy và rào cản ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng công nghệ 4.0 ở cả hai chiều vĩ mô và vi mô. Qua việc chỉ ra các giới hạn của những nghiên cứu trước, chương 1 luận giải tính hợp lý của việc lựa chọn tiếp cận vĩ mô có bổ sung các chỉ số chuyên biệt của ngành CBCT, làm căn cứ thực hiện các chương tiếp theo.

Chương 2: Cơ sở lý luận về mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT đối với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận:

  • Hệ thống hóa lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghiệp, phân tích rõ sự khác biệt về bản chất công nghệ, năng suất, mức độ tinh vi của quy trình sản xuất và tỷ lệ thay thế thiết bị qua từng thời kỳ.
  • Phân tích định nghĩa ngành công nghiệp CBCT theo hệ thống ngành kinh tế cấp 1 và cấp 2, khẳng định vai trò then chốt của ngành CBCT đối với tiến trình công nghiệp hóa và việc tạo lập nền tảng vật chất cho CMCN 4.0.
  • Xác lập khái niệm và các chiều cạnh phản ánh mức độ sẵn sàng của ngành CBCT đối với CMCN 4.0.
  • Thiết lập khung đo lường gồm 5 nhóm tiêu chí (trụ cột), lựa chọn 31 chỉ tiêu cụ thể đại diện cho các mặt: vị thế kinh tế, nhân lực, doanh nghiệp, công nghệ và thể chế. Xác định công thức chuẩn hóa min-max thang điểm 10 và quy định trọng số đồng đều 20% cho mỗi trụ cột.

Chương 3: Thực trạng phát triển ngành công nghiệp CBCT ở Việt Nam giai đoạn 2011–2020

Chương này phân tích bức tranh kinh tế - kỹ thuật của ngành CBCT Việt Nam trong giai đoạn 10 năm:

  • Đóng góp vĩ mô: Ngành CBCT duy trì vị thế đầu tàu tăng trưởng, đóng góp 35,0% vào tăng trưởng giá trị gia tăng (VA) toàn nền kinh tế thời kỳ 2011–2020; chiếm gần 27% tổng VA năm 2021; chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước.
  • Huy động nguồn lực: Thu hút 24,46% vốn đầu tư toàn xã hội năm 2021; là điểm đến lớn nhất của nguồn vốn FDI với 59,2% tổng vốn đăng ký lũy kế.
  • Lao động và năng suất: Lao động ngành CBCT tăng nhanh, đạt 22,8% tổng lực lượng lao động xã hội năm 2021. Tuy nhiên, năng suất lao động của ngành còn thấp so với các nước trong khu vực, cơ cấu nội ngành chủ yếu tập trung vào các khâu gia công, lắp ráp thâm dụng lao động giản đơn.
  • Trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh: Tỷ trọng giá trị gia tăng của các phân ngành công nghệ trung bình và công nghệ cao còn khiêm tốn. Chỉ số Hiệu quả Cạnh tranh Công nghiệp (CIP) của UNIDO cho thấy vị trí của Việt Nam có sự cải thiện nhưng khoảng cách so với các nước ASEAN-3 (Singapore, Malaysia, Thái Lan) vẫn còn đáng kể.
  • Phân tích các nhân tố ảnh hưởng: Đánh giá tác động của các yếu tố ngoại sinh (độ mở thương mại, dòng vốn FDI, các hiệp định thương mại tự do FTA) và yếu tố nội sinh (chất lượng thể chế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, năng lực tài chính và trình độ của cộng đồng doanh nghiệp trong nước).

Chương 4: Thực trạng mức độ sẵn sàng của ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam đối với Công nghiệp 4.0

Chương 4 là chương thực nghiệm trung tâm của luận án, trình bày kết quả đo lường và xếp hạng:

  • Điểm số theo từng trụ cột:
    • Trụ cột 1 (Tầm quan trọng của ngành CBCT): Việt Nam đạt điểm số cao do tỷ trọng đóng góp của ngành trong GDP, trong tăng trưởng và trong xuất khẩu đều ở mức nổi bật so với nhóm 20 nước.
    • Trụ cột 2 (Mức độ sẵn sàng về nhân lực): Điểm số của Việt Nam ở mức trung bình thấp; hạn chế lớn nằm ở tỷ lệ đầu tư cho R&D (% GDP), tỷ lệ lao động tri thức và thứ hạng các trường đại học.
    • Trụ cột 3 (Mức độ sẵn sàng về doanh nghiệp): Điểm số hạn chế do năng suất lao động tính bằng USD còn thấp, mật độ doanh nghiệp lớn toàn cầu (Forbes 2000) và mức độ phát triển của các cụm liên kết ngành (cluster) còn yếu.
    • Trụ cột 4 (Mức độ sẵn sàng về công nghệ): Việt Nam có điểm số khá về mức độ bao phủ hạ tầng internet và thuê bao di động, nhưng điểm số về mật độ rô-bốt công nghiệp, số lượng bằng sáng chế của cư dân trong nước và tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao tự chủ còn ở mức thấp.
    • Trụ cột 5 (Mức độ sẵn sàng về thể chế): Môi trường chính sách đã có các định hướng tổng thể về CMCN 4.0, nhưng mức độ liên kết R&D giữa trường đại học - viện nghiên cứu với khu vực doanh nghiệp sản xuất còn yếu.
  • Kết quả tổng thể và đối sánh: Tính toán tổng điểm trung bình và xếp hạng vị trí của ngành CBCT Việt Nam trong tương quan với 19 nền kinh tế từ năm 2015 đến năm 2020. Qua đó, luận án xác định phân vị mức độ sẵn sàng của Việt Nam dựa trên kết quả tham vấn ý kiến chuyên gia.

Chương 5: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự sẵn sàng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam đối với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển đến năm 2030, các định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng việc đúc kết kinh nghiệm quốc tế (chiến lược phát triển công nghiệp 4.0 của Đức, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia), tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Tiếp tục coi trọng vị trí, vai trò của ngành CBCT: Định hình lại chính sách công nghiệp quốc gia, ưu tiên phát triển các phân ngành CBCT có hàm lượng công nghệ cao, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong chuỗi cung ứng.
  2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Cải cách chương trình giáo dục đào tạo theo định hướng STEM; gắn kết đào tạo nghề với nhu cầu công nghệ số của doanh nghiệp; tăng cường chi tiêu ngân sách và huy động vốn xã hội cho đào tạo kỹ thuật công nghệ.
  3. Phát triển doanh nghiệp công nghiệp CBCT: Thúc đẩy phát triển các cụm liên kết ngành (cluster); hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chuyển đổi số; khuyến khích các tập đoàn lớn xây dựng chuỗi giá trị và dẫn dắt công nghệ.
  4. Tăng cường huy động nguồn lực cho phát triển khoa học công nghệ: Nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D trong GDP; phát triển thị trường khoa học công nghệ; ứng dụng tự động hóa, rô-bốt và các giải pháp sản xuất thông minh.
  5. Xây dựng xã hội cởi mở và cải thiện chất lượng thể chế cho đổi mới sáng tạo: Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình sản xuất kinh doanh mới; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường cơ chế phối hợp công - tư (PPP) trong triển khai các sáng kiến Công nghiệp 4.0.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Xây dựng và hoàn thiện khung lý thuyết vĩ mô đánh giá mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp CBCT đối với CMCN 4.0, khắc phục sự thiên lệch của các khung phân tích trước đây vốn chỉ tập trung vào mức độ số hóa chung của nền kinh tế hoặc khảo sát hạn hẹp ở quy mô doanh nghiệp.
  2. Thiết lập hệ thống chỉ số đo lường toàn diện gồm 5 trụ cột với 31 chỉ tiêu vĩ mô cụ thể, trong đó tích hợp sâu các biến số định lượng phản ánh đúng vai trò, quy mô, cơ cấu và năng suất của ngành công nghiệp CBCT.
  3. Xác lập phương pháp luận tính điểm chuẩn hóa min-max thang điểm 10 với trọng số đồng nhất giữa các trụ cột, tạo công cụ có độ tin cậy để đối sánh quốc tế và theo dõi xu hướng phát triển theo chuỗi thời gian nhiều năm.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng và kết quả đánh giá thực nghiệm chi tiết về mức độ sẵn sàng của ngành CBCT Việt Nam giai đoạn 2015–2020 trong mối tương quan so sánh với 19 nền kinh tế thuộc các khối ASEAN, G-20, BRIC và các nước Đông Âu chuyển đổi.
  2. Phân định rõ các điểm mạnh (vai trò đóng góp của ngành trong nền kinh tế, độ phủ hạ tầng viễn thông) và các điểm nghẽn cốt lõi (đầu tư cho R&D thấp, thiếu hụt lao động kỹ thuật cao, mật độ tự động hóa và năng suất lao động thấp, liên kết viện - trường - doanh nghiệp còn yếu).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách đồng bộ, có tính phân kỳ đến năm 2030, trực tiếp gắn với 5 trụ cột đo lường, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách công nghiệp tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên công bố của tác giả, luận án có những hạn chế sau:

  • Bộ 31 chỉ tiêu chưa thể bao quát đầy đủ toàn bộ nội hàm và các công nghệ mới nổi của CMCN 4.0 mà chủ yếu tập trung vào khía cạnh số hóa và một phần tự động hóa.
  • Quá trình thu thập số liệu phụ thuộc vào báo cáo của các tổ chức quốc tế; do đó có những chỉ tiêu tác giả chưa can thiệp được vào phương pháp tính gốc. Đối với một số ít chỉ tiêu bị khuyết dữ liệu ở vài năm, tác giả phải sử dụng giả định lấy giá trị của năm gần nhất (năm trước hoặc năm sau) để thay thế.
  • Việc quy định trọng số bằng nhau (20%) cho cả 5 trụ cột có thể tạo ra tính thiên kiến nhất định, dẫn đến kết quả điểm số tổng thể có phần thuận lợi hơn cho những quốc gia có tỷ trọng ngành CBCT chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế như Việt Nam.
  • Do các hệ thống thống kê quốc tế chưa bóc tách riêng biệt dữ liệu cho ngành CBCT ở một số khía cạnh, nhiều chỉ tiêu thuộc các trụ cột nhân lực, công nghệ và thể chế vẫn phải sử dụng số liệu cấp nền kinh tế đại diện cho ngành CBCT.
  • Cách tiếp cận thuần túy từ số liệu vĩ mô tổng hợp chưa phản ánh được đầy đủ những biến động thực tế và sự phân hóa sâu sắc ở cấp độ vi mô của từng doanh nghiệp trong ngành.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Các đơn vị trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ có thể tham khảo phương pháp đo lường, bức tranh so sánh vị thế ngành CBCT của Việt Nam với các nước trong khu vực và hệ thống 5 nhóm giải pháp chính sách phát triển công nghiệp đến năm 2030.
  • Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tổng quan toàn diện về các mô hình đo lường mức độ sẵn sàng đối với CMCN 4.0 trên thế giới (Roland Berger, Faarup, WEF, The Economist, Naude, IMPULS, SIRI...); đồng thời cung cấp phương pháp chuẩn hóa dữ liệu min-max và thiết kế bảng hỏi khảo sát chuyên gia.
  • Cộng đồng doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng CBCT: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận diện rõ vị trí của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam trên bản đồ khu vực, từ đó xây dựng kế hoạch chuyển đổi công nghệ, đầu tư R&D và đào tạo nhân lực phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có vai trò và đóng góp như thế nào đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011–2020 theo dữ liệu luận án?

Theo số liệu thống kê được luận án tính toán, trong giai đoạn 2011–2020, ngành CBCT là ngành cấp 1 đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng giá trị gia tăng (VA) của cả nước với tỷ lệ 35,0%. Đến năm 2021, ngành chiếm tỷ trọng gần 27,0% tổng VA nền kinh tế; thu hút 24,46% tổng vốn đầu tư xã hội; lũy kế thu hút 15.571 dự án FDI (chiếm 39,8% tổng số dự án FDI) với 248,7 tỷ USD (chiếm trên 59,2% tổng vốn FDI cả nước); đồng thời giải quyết việc làm cho 22,8% lực lượng lao động cả nước.

2. Bộ chỉ số đo lường của luận án gồm những trụ cột nào và áp dụng công thức chuẩn hóa tính điểm ra sao?

Bộ chỉ số của luận án gồm 5 trụ cột với 31 chỉ tiêu vĩ mô: (1) Tầm quan trọng của ngành CBCT trong nền kinh tế (5 chỉ tiêu); (2) Mức độ sẵn sàng về nhân lực (7 chỉ tiêu); (3) Mức độ sẵn sàng về doanh nghiệp (5 chỉ tiêu); (4) Mức độ sẵn sàng về công nghệ (10 chỉ tiêu); (5) Mức độ sẵn sàng về thể chế (4 chỉ tiêu). Tác giả sử dụng công thức chuẩn hóa min-max để đưa các chỉ tiêu về thang điểm từ 0 đến 10:

$$x' = \frac{x - \min(x)}{\max(x) - \min(x)} \times 10$$

Mỗi trụ cột có trọng số bằng nhau là 20%, và các chỉ tiêu trong cùng một trụ cột cũng có trọng số bằng nhau.

3. Luận án thực hiện đối sánh ngành CBCT Việt Nam với những quốc gia nào và trong khoảng thời gian nào?

Luận án thực hiện đối sánh Việt Nam với 19 nền kinh tế đại diện cho các nhóm trình độ phát triển và vị trí địa lý khác nhau: Hoa Kỳ, Nga, Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Ấn Độ (tổng cộng 20 nền kinh tế). Khoảng thời gian đo lường và tính điểm mức độ sẵn sàng là giai đoạn 2015–2020.

4. Những điểm nghẽn chính về mức độ sẵn sàng cho CMCN 4.0 của ngành CBCT Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?

Các điểm nghẽn lớn nhất gồm: tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) trên GDP còn rất thấp; năng suất lao động tính theo giá trị USD còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển; mật độ rô-bốt công nghiệp và số lượng bằng sáng chế của cư dân trong nước còn hạn chế; mức độ phát triển của các cụm liên kết ngành (cluster) còn sơ khai; sự hợp tác R&D giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các doanh nghiệp sản xuất chưa thực chất.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Hà đã hoàn thiện khung lý thuyết và bộ công cụ đo lường thực nghiệm cấp vĩ mô gồm 5 trụ cột và 31 chỉ tiêu chuẩn hóa để đánh giá mức độ sẵn sàng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam đối với CMCN 4.0. Thông qua việc phân tích dữ liệu giai đoạn 2015–2020 và đối sánh với 19 nền kinh tế trên thế giới, luận án đã làm rõ vị thế thực tế, tiềm năng cũng như những điểm nghẽn nội tại về năng suất, công nghệ và nhân lực của ngành. Trên cơ sở đó, công trình đã đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp chính sách đồng bộ hướng đến năm 2030, đóng góp nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu và hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia trong kỷ nguyên số.