Chương I: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNVV và môi trường kinh doanh. *Chương II: Thực trạng DNNVV và đánh giá của các DNNVV đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. *Chương III: Phương hướng và giải pháp để hoàn thiện môi trường kinh doanh đối với các DNNVV tại thành phố Đà Nẵng. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 1.1 Doanh nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Có thể nói, doanh nghiệp là tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân, là nơi diễn ra quá trình sản xuất, tái sản xuất để tạo ra sản phẩm dịch vụ một cách có hiệu quả, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Trên mỗi góc độ nghiên cứu, phân tích khác nhau có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp: Trên quan điểm của nhà tổ chức, người ta cho rằng: “Doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và nhân lực được tổ chức lại nhằm thực hiện một mục đích” [12, tr. Mục đích được đề cập ở đây là làm lợi vốn đầu tư, làm lợi cho công nhân viên và đảm bảo sự phát triển cho tương lai. Quan điểm này mới chỉ đề cập đến các yếu tố đầu vào và mục đích cần đạt được, chưa đưa ra các chức năng, các mối quan hệ trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trên quan điểm lý thuyết hệ thống: “DN là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế.
Mỗi đơn vị trong hệ thống chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó, nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội” [12, tr. Tuy nhiên quan điểm này chỉ mới mô tả rất tổng quát, chưa nêu lên được chức năng, nhiệm vụ và vị trí cũng như tính pháp lý của doanh nghiệp. Viện Nghiên cứu kinh tế Pháp cho rằng: “DN là một tổ chức kinh tế mà chức năng của nó là sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ để bán” [12, tr. Quan điểm này vẫn chưa đề cập đến điều kiện pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của DN.
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2006 đã đưa ra khái niệm: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh; đó là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị 4 trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy, so với quan điểm trên, quan điểm về DN quy định trong Luật DN 2006 đầy đủ hơn. Theo Luật này, đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho các DN thành lập và tổ chức kinh doanh cho công ty TNHH, DNTN, CTCP, công ty hợp danh thuộc các thành phần kinh tế. Các hộ kinh doanh cá thể nếu không thực hiện việc đăng ký kinh doanh sẽ không được gọi là DN, không có tư cách pháp nhân.2 Phân loại doanh nghiệp Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, có thể tùy theo các chỉ tiêu khác nhau mà người ta phân ra các loại doanh nghiệp khác nhau: - Theo ngành kinh tế, có thể chia DN công nghiệp, DN nông nghiệp, doanh nghiệp TM, DV.
- Theo tính chất hoạt động, có DN hoạt động công ích và DN SXKD. - Theo hình thức sở hữu, có DNNN, DN dân doanh và DN có vốn đầu tư nước ngoài. - Theo quy mô, mà chủ yếu là quy mô về vốn và lao động, có DN lớn, DNNVV. DNNVV là loại hình DN phổ biến ở hầu hết tất cả các nước.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV không chỉ là phạm trù phản ánh độ lớn của DN, mà còn là phạm trù bao hàm nội dung tổng thể về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý, tiến bộ khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, không có tiêu chí thống nhất để phân loại DNNVV cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế- xã hội mỗi nước khác nhau, và ngay trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tùy theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng lãnh thổ. Thông thường có hai tiêu chí phân loại DNNVV: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. + Nhóm tiêu chí định tính: dựa trên những đặc trưng cơ bản của DNNVV như: chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ quản lý thấp…Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nó thường làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để phân loại trên thực tế.
5 + Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể sử dụng các tiêu chí sau: số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận,…của doanh nghiệp. Trong đó thường sử dụng nhiều nhất là những tiêu chí: tiêu chí lao động và tiêu chí và giá trị tài sản (vốn) hay doanh thu để phân loại DNNVV. Hiện nay, trên thế giới không có khái niệm chuẩn mực về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Liên minh Châu Âu, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250.
Tại Úc, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000. Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có sự khác nhau giữa các nước trong cùng một khu vực. Tại Nam Phi, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có từ 1 – 500 công nhân. Tại Chi – Lê và Colombia con số đó là từ 11 đến 200.
Trong khi đó tại Mê-hi-cô thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tất nhiên, tùy điều kiện và tình hình kinh tế mà mỗi nước sẽ quy định số lượng công nhân mà một doanh nghiệp nhỏ và vừa cần có. Hiện nay, một số nước đã nhận thức được sự cần thiết và đã thực hiện hài hòa hóa khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Liên minh Châu Âu và Khu vực MERCOSUR (Ác-hen-tina, Braxin, Paraguay và Uruguay) đã đưa ra mô hình chung để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Hiệp ước Asuntion năm 1991.
Nói chung, các nỗ lực chuẩn hóa khái niệm này đã giúp cho các nước phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhờ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận vốn, kết quả nghiên cứu và phát triển. Ở Việt Nam, từ nhiều năm trước, khi chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy định DNNVV, một số cơ quan, nhà nghiên cứu đã đưa ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNNVV. Có thể kể ra cách cách phân loại tiêu biểu sau: - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí lao động và vốn của các ngành để phân biệt: + Trong ngành công nghiệp: DNNVV là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5-10 tỷ đồng và có số lao động 200-500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng với số lao động nhỏ hơn 200 người.
6 + Trong ngành Thương mại-Dịch vụ: DNNVV là tổ chức có số vốn từ 5-10 tỷ đồng và có số vốn lao động từ 50-100 người. - Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động từ 500-1000 người, DN nhỏ là DN có số vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người. - Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1-10 tỷ đồng và có từ 100-500 lao động là DN vừa. Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí vốn và lao động thường xuyên để xác định DNNVV vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu thức này.
Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và khó xác định.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Để thống nhất tiêu chí xác định DNNVV, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định DNNVV. Theo quy định này, DNNVV là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định tạm thời này chỉ tồn tại 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, theo quy định tại Nghị định này, “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc 1 trong 2 tiêu chí trên”.
Với tiêu thức phân loại mới này DNNVV ở nước ta chiếm tỷ trọng trên 90% trong tổng số DN hiện có, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta vốn là nền kinh tế sản xuất nhỏ và vừa là chủ yếu. Căn cứ theo Nghị Định 56/2009/NĐ – CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển DNNVV như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh 7 doanh theo quy định pháp luật, chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm”. [11] Cụ thể bảng 1.1 như sau: Bảng 1.1: Quy định của Chính Phủ về tiêu chí DNNVV Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số LĐ Tổng vốn Số LĐ Tổng vốn Số LĐ Khu vực ( người) ( tỷ đồng) ( người) ( tỷ đồng) ( người) I.
Nông, lâm và thủy sản < 10 < 20 10 - 200 20 - 100 200 – 300 II.