Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý mạn tính phổ biến và tiến triển nhanh trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê được tác giả dẫn giải trong văn bản, Việt Nam hiện có khoảng 9 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, tương đương tỷ lệ 11 người trưởng thành thì có 01 người mắc bệnh—thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Căn bệnh này được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ví như "Kẻ giết người thầm lặng" do các biến chứng mạn tính nguy hiểm, trong đó biến chứng bàn chân là một trong những hậu quả thường gặp và nghiêm trọng nhất.
Nguyên nhân dẫn đến tổn thương bàn chân bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều yếu tố bệnh lý:
- Biến chứng thần kinh: Xuất hiện ở khoảng 40% người bệnh ĐTĐ, làm mất hoặc giảm khả năng cảm nhận đau, nóng, lạnh, khiến người bệnh không nhận biết được các chấn thương cơ học hàng ngày (như dẫm phải đinh, sỏi, vết rách, xước). Vết thương chỉ được phát hiện khi đã sưng to hoặc nhiễm trùng nặng.
- Biến chứng mạch máu: Khoảng 20% bệnh nhân ĐTĐ bị hẹp hoặc tắc các động mạch cấp máu ở chân do xơ vữa mạch máu, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng mô, làm chậm quá trình lành vết thương và gia tăng nguy cơ hoại tử hoàn toàn bàn chân và các ngón chân.
- Nguy cơ nhiễm trùng và đặc điểm xã hội: Môi trường đường huyết cao kết hợp tuần hoàn kém làm suy giảm hệ miễn dịch. Tại Việt Nam, đa số bệnh nhân ĐTĐ là người trực tiếp lao động sản xuất nông nghiệp hoặc công nghiệp, thường xuyên tiếp xúc môi trường nhiều vi khuẩn, khiến các vết xước nhỏ dễ dàng tiến triển thành ổ nhiễm trùng lan rộng.
- Các yếu tố nguy cơ phối hợp: Béo phì, suy giảm thị lực, mắc bệnh ĐTĐ lâu năm, kiểm soát đường huyết kém, biến chứng thận gây mất protein, rối loạn lipid máu, mang giày tất không phù hợp, và tiền sử từng bị loét hoặc cắt cụt chi.
Hậu quả của biến chứng bàn chân thể hiện qua các con số lâm sàng: nguy cơ mắc loét bàn chân trong suốt đời người bệnh ĐTĐ là 15%, và ước tính trên thế giới cứ mỗi 30 giây lại có một ca cắt cụt chi do ĐTĐ. Mặc dù tính chất nguy hiểm rất cao, các nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ tại các cơ sở khám chữa bệnh tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Nhằm cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác điều dưỡng và quản lý người bệnh, đề tài đặt ra 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá kiến thức, thực hành tự chăm sóc loét bàn chân ở bệnh nhân tiểu đường tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2023.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tự chăm sóc loét bàn chân ở bệnh nhân tiểu đường tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2023.
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định mắc bệnh ĐTĐ và đang nằm điều trị nội trú.
- Phạm vi không gian: Khoa Nội tiết, Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu trong tháng 9 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm chuyên ngành điều dưỡng và nội tiết dựa trên các nguồn tài liệu chuẩn mực:
- Đái tháo đường: Tình trạng suy giảm bài tiết insulin kết hợp với kháng insulin ngoại vi dẫn đến tăng đường huyết mạn tính, được phân loại thành ĐTĐ type 1 (phá hủy tế bào beta tụy, thường gặp ở người trẻ), ĐTĐ type 2 (chiếm 90% đến 95% tổng số ca, đặc trưng bởi suy giảm chức năng tế bào beta trên nền kháng insulin), ĐTĐ thai kỳ (xuất hiện từ tuần thứ 24 của thai kỳ), và ĐTĐ thứ phát (do di truyền, bệnh nội khoa, dùng glucocorticoid hoặc thuốc điều trị HIV/AIDS).
- Bàn chân đái tháo đường: Khái niệm định nghĩa bàn chân của người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị tổn thương bệnh lý bao gồm nhiễm khuẩn, loét, hoặc sự phá hủy các mô sâu, liên quan tới bất thường thần kinh, bệnh mạch máu ngoại vi và các rối loạn chuyển hóa ở chi dưới.
- Khung hướng dẫn chuyên môn: Sử dụng các khuyến cáo và tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2008 và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2008 về thực hành chăm sóc và phòng ngừa loét bàn chân.
Thiết kế nghiên cứu và đối tượng
- Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định ĐTĐ và điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn trong tháng 9 năm 2023.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh trong tình trạng nặng hoặc có vấn đề về tâm thần.
- Người bệnh khó khăn trong việc nghe, nói; người bệnh đã cắt cụt cả 2 chân.
- Người bệnh bất đồng ngôn ngữ, mất khả năng tự chăm sóc bản thân.
- Người bệnh từ chối tham gia phỏng vấn hoặc đã được phỏng vấn trước đó trong cùng đợt nghiên cứu.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện (bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ, lấy mẫu 1 lần, trên tinh thần tự nguyện).
- Công thức tính cỡ mẫu: Áp dụng công thức ước tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ trong nghiên cứu cắt ngang:
$$n = Z^2_{(1-\alpha/2)} \times \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó: mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$; hệ số tin cậy tương ứng với độ tin cậy 80% là $Z = 1,28$; sai số cho phép $d = 0,08$; tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng tham khảo từ nghiên cứu của Vũ Phương Anh (năm 2021) là $p = 0,85$. Cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 40 bệnh nhân, dự phòng 5% sai sót là 42 bệnh nhân. Cỡ mẫu thu thập thực tế được phân tích là 40 bệnh nhân.
Công cụ thu thập và thang điểm đánh giá
Bộ công cụ sử dụng là phiếu hỏi cấu trúc gồm 3 phần, có hệ số độ tin cậy chung Cronbach's Alpha đạt 0,606:
- Phần 1: Đặc tính dân số học (6 biến số): Giới tính, nhóm tuổi, tình trạng gia đình (sống một mình hay sống cùng gia đình), trình độ học vấn (THCS, THPT, TC/CĐ, ĐH/Sau ĐH), nghề nghiệp (hưu trí, nội trợ, tự do, khác), và thời gian mắc bệnh ($Thời\ gian\ mắc\ bệnh = 2023 - năm\ mắc\ bệnh$).
- Phần 2: Kiến thức tự chăm sóc bàn chân (20 câu hỏi): Thừa hưởng từ bộ công cụ đã được chuẩn hóa tại Việt Nam bởi Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là, với độ giá trị đạt 0,89 và độ tin cậy đạt 0,84. Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai hoặc không biết được 0 điểm (thang điểm 0 - 20). Phân loại mức độ: Kém (< 10 điểm), Trung bình (10 - 14 điểm), Tốt ($\ge 14$ điểm).
- Phần 3: Thực hành tự chăm sóc bàn chân (21 câu hỏi): Độ giá trị đạt 0,91 và độ tin cậy đạt 0,91 theo bộ công cụ chuẩn của Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là. Điểm số dao động từ 0 - 21 điểm (đúng = 1 điểm, sai = 0 điểm). Phân loại mức độ: Kém ($\le 10$ điểm), Trung bình (11 - 14 điểm), Tốt ($\ge 15$ điểm).
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu
- Quy trình: Phỏng vấn trực tiếp kết hợp quan sát và hỗ trợ người bệnh tự điền phiếu hỏi, thời gian thực hiện khoảng 10 phút/người. Quy trình gồm 3 bước: xác định đối tượng đủ tiêu chuẩn, giới thiệu mục đích và ký phiếu đồng thuận, tiến hành hỏi-ghi nhận thông tin vào phiếu.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được thông qua theo Quyết định số 476/QĐ-ĐHP-HĐĐĐ ngày 12/04/2023 của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học cấp cơ sở Trường Đại học Phenikaa, đồng thời được sự chấp thuận của Ban Giám đốc và Khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn.
- Xử lý số liệu: Dữ liệu sau khi làm sạch được phân tích trên phần mềm SPSS 26. Sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình, độ lệch chuẩn SD, trung vị) và phân tích hồi quy đa biến nhằm xác định mối tương quan giữa các biến định tính. Ngưỡng ý nghĩa thống kê xác định tại $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các định nghĩa bệnh học về ĐTĐ (type 1, type 2, thai kỳ, thứ phát) và cơ chế hình thành biến chứng bàn chân ĐTĐ. Đồng thời, tác giả tổng thuật các bằng chứng thực nghiệm trong nước và quốc tế:
- Nghiên cứu quốc tế: Aydin Pourkaxemi ghi nhận 84,8% bệnh nhân có kiến thức kém và 49,6% thực hành kém; Faraja S. Chiwanga và Marina A. Njelekela (Tanzania) khảo sát 404 bệnh nhân thấy 15% bị loét chân, 44% mắc bệnh thần kinh ngoại biên, điểm kiến thức trung bình đạt 11,2/23; Abdu Tuha (Ethiopia) ghi nhận 61,3% có kiến thức tốt nhưng chỉ 39% thực hành tốt; Huimin Jia (Bắc Trung Quốc) khảo sát 1.080 đối tượng ghi nhận 71,4% thực hành kém; Gracelyn Hanley (St. Kitts và Nevis) nghiên cứu trên 210 bệnh nhân; Abrar Ali Wazqar (Ả Rập Saudi) trên 409 bệnh nhân chỉ ra nhân viên y tế là nguồn thông tin chính chiếm 76,8%; Yuqi Zhang (Úc) tổng quan hệ thống về tỷ lệ cắt cụt chi dao động 5,2 - 7,2/1.000 người/năm.
- Nghiên cứu trong nước: Đỗ Đình Tùng (BV Đa khoa Xanh Pôn năm 2021) chỉ ra thời gian mắc bệnh $\ge 5$ năm có kiến thức và thực hành tốt hơn; Vũ Phương Anh (BV Thanh Nhàn năm 2021) ghi nhận kiến thức tốt chiếm 68,6% nhưng thực hành tốt chỉ đạt 14,4%; Ngô Huy Hoàng và Lê Thị Hoa (BVĐK tỉnh Thái Bình) chứng minh can thiệp giáo dục sức khỏe giúp nâng điểm thực hành từ 11,92 lên 15,94 điểm; Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là (BV Chợ Rẫy) ghi nhận tỷ lệ thực hành tốt chỉ đạt 14,4%; Dương Thị Ngọc Lan (BV Đại học Y - Dược Huế) ghi nhận 53,7% kiến thức kém và 64,8% hành vi kém; Nguyễn Văn Tự (BVĐK tỉnh Bắc Ninh năm 2022) ghi nhận 72,5% chưa đạt kiến thức xử trí da khô; Nguyễn Thị Thùy Dương và Bùi Thị Hải Anh (BVĐK tỉnh Nam Định) ghi nhận 86,1% kiến thức tốt; Thạch Thị Phola (BVĐK Hoàn Mỹ Cửu Long năm 2022) ghi nhận kiến thức đúng đạt 23,5%, hành vi đúng đạt 15%; Hồ Phương Thúy và Ngô Hoàng Huy (BVĐK tỉnh Tuyên Quang) ghi nhận tỷ lệ thực hành tốt tăng từ 33% lên 77% sau can thiệp 1 tháng.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp luận mô tả cắt ngang thực hiện tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn. Tác giả thiết lập tiêu chuẩn lựa chọn, các tiêu chuẩn loại trừ cụ thể (sau khi tiếp thu ý kiến của Hội đồng đánh giá khóa luận tốt nghiệp), phương pháp chọn mẫu thuận tiện, công thức tính cỡ mẫu, quy trình 3 bước thu thập số liệu, đạo đức nghiên cứu y sinh và các biện pháp kiểm soát sai số (nhập liệu độc lập 2 lần, làm sạch dữ liệu trước khi chạy SPSS 26).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập trên 40 bệnh nhân, chia thành ba nhóm dữ liệu chính:
1. Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng
- Giới tính: Bệnh nhân nữ chiếm đa số với 60% (24 người), bệnh nhân nam chiếm 40% (16 người).
- Nhóm tuổi: Tập trung nhiều nhất ở người cao tuổi, trong đó nhóm $\ge 70$ tuổi chiếm 45% (18 người); nhóm 60 - 69 tuổi chiếm 35% (14 người); nhóm 50 - 59 tuổi chiếm 15% (6 người); hai nhóm 40 - 49 tuổi và < 40 tuổi đều chiếm tỷ lệ thấp 2,5% (1 người mỗi nhóm).
- Tình trạng gia đình: 97,5% (39 người) sống cùng gia đình; chỉ có 2,5% (1 người) sống một mình.
- Trình độ học vấn: Trình độ THCS chiếm tỷ lệ cao nhất với 40% (16 người); THPT chiếm 37,5% (15 người); ĐH/Sau ĐH chiếm 15% (6 người); TC/CĐ chiếm tỷ lệ thấp nhất với 7,5% (3 người).
- Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất 45% (18 người); lao động tự do chiếm 37,5% (15 người); nghề nghiệp khác chiếm 10% (4 người); nội trợ chiếm 7,5% (3 người).
- Thời gian mắc bệnh ĐTĐ: Người mắc bệnh > 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,5% (21 người); người mắc bệnh < 5 năm chiếm 35% (14 người); nhóm mắc bệnh 5 - 10 năm chiếm tỷ lệ thấp nhất với 12,5% (5 người).
2. Kiến thức tự chăm sóc bàn chân
Tác giả khảo sát chi tiết 4 khía cạnh nhận thức của người bệnh thông qua các câu hỏi chuyên biệt:
| Khía cạnh kiến thức |
Nội dung khảo sát |
Trả lời Đúng n (%) |
Sai / Không biết n (%) |
| Nhận biết nguy cơ |
Nguy cơ cao bị khô da, chai sần, loét |
18 (45,0%) |
22 (55,0%) |
|
Không cảm nhận được tổn thương ở chân |
17 (42,5%) |
22 (57,5%) |
|
Vết thương, nhiễm trùng lâu lành |
22 (55,0%) |
18 (45,0%) |
| Chăm sóc hàng ngày |
Tuân thủ chế độ ăn, tập luyện, dùng thuốc |
38 (95,0%) |
2 (5,0%) |
|
Cắt móng chân đúng cách |
33 (83,5%) |
7 (17,5%) |
|
Lau khô chân sau khi rửa |
31 (77,5%) |
9 (22,5%) |
|
Rửa chân sạch sẽ hàng ngày |
30 (75,0%) |
10 (25,0%) |
|
Tự kiểm tra bàn chân hàng ngày |
27 (67,55%) |
13 (32,5%) |
| Bảo vệ tránh tổn thương |
Kiểm tra bên trong giày dép trước khi mang |
33 (82,5%) |
7 (17,5%) |
|
Chọn giày mềm hoặc dép bịt ngón bảo vệ chân |
29 (72,5%) |
11 (27,5%) |
|
Không đi chân trần ngoài nhà |
27 (67,5%) |
13 (32,5%) |
|
Mang giày phải mang vớ |
12 (30,0%) |
28 (70,0%) |
|
Không đi chân trần trong nhà |
7 (17,0%) |
33 (83,5%) |
|
Không ngâm chân nước nóng |
4 (10,0%) |
36 (90,0%) |
| Tăng cường tuần hoàn |
Không mang vớ quá chật / đai cao su bó cổ chân |
27 (67,5%) |
13 (32,5%) |
|
Không ngồi bắt chéo chân |
19 (47,5%) |
21 (52,5%) |
|
Nhận biết tác hại của thuốc lá với mạch máu chân |
13 (32,5%) |
27 (67,5%) |
Đánh giá chung trên thang điểm 20: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức tốt chỉ chiếm 22,5% (9 người); mức độ kiến thức trung bình chiếm 50,0% (20 người); mức độ kiến thức kém chiếm 27,5% (11 người).
3. Thực hành tự chăm sóc bàn chân
- Phân loại mức độ thực hành theo thang điểm 21: Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức độ thực hành tốt chiếm 60,0% (24 người); mức độ trung bình chiếm 32,5% (13 người); mức độ thực hành kém chiếm 7,5% (3 người).
4. Phân tích các mối liên quan
- Kiến thức và thời gian mắc bệnh: Tồn tại mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh ĐTĐ và mức độ kiến thức chăm sóc bàn chân với $p = 0,01 < 0,05$. Người mắc bệnh lâu năm (> 10 năm) có tỷ lệ kiến thức tốt cao hơn rõ rệt so với người mới mắc bệnh ít năm.
- Thực hành và nghề nghiệp: Nghề nghiệp của người bệnh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ thực hành chăm sóc bàn chân với $p = 0,012 < 0,05$.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công trình đi trước:
- Tỷ lệ người cao tuổi ($\ge 60$ tuổi chiếm 80%) và nữ giới (60%) phản ánh đặc điểm dịch tễ học ĐTĐ type 2 nội trú, tương đồng với các nghiên cứu của Abrar Ali Wazqar và Thạch Thị Phola.
- Kiến thức về xử trí khi da chân bị khô và thực hành đi khám bàn chân định kỳ của bệnh nhân còn rất thấp, tương thích với kết luận của Nguyễn Văn Tự tại Bắc Ninh (72,5% chưa đạt kiến thức xử trí da khô) và Huimin Jia tại Bắc Trung Quốc.
- Tồn tại nghịch lý lớn trong nhận thức bảo vệ chân: người bệnh nhận thức tốt việc kiểm tra giày dép (82,5%) và không đi chân trần ngoài nhà (67,5%), nhưng có đến 83,5% quan niệm sai lầm khi cho rằng có thể đi chân trần trong nhà, và 90% không biết rằng việc ngâm chân nước nóng tiềm ẩn nguy cơ gây bỏng nặng do mất cảm giác nhiệt.
- Tương quan giữa thời gian mắc bệnh và kiến thức phản ánh quá trình tích lũy thông tin qua các lần tái khám, phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Đình Tùng và Huimin Jia.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Tổng kết hai mục tiêu nghiên cứu, khẳng định tỷ lệ kiến thức tốt còn thấp (22,5%) dù thực hành đạt mức tốt chiếm 60%. Nhấn mạnh hai yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê là thời gian mắc bệnh ảnh hưởng đến kiến thức ($p = 0,01$) và nghề nghiệp ảnh hưởng đến thực hành ($p = 0,012$). Đồng thời đưa ra khuyến nghị tăng cường tư vấn giáo dục sức khỏe trực tiếp tại khoa Nội tiết, tập trung vào các kỹ năng xử lý da khô, không đi chân trần trong nhà và bỏ thói quen ngâm chân nước nóng.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp các chỉ số kết quả chính
| Chỉ số đánh giá |
Phân loại / Nội dung |
Tỷ lệ % (Số lượng n=40) |
Giá trị thống kê / Ý nghĩa |
| Mức độ kiến thức chung |
Tốt ($\ge 14$ điểm) |
22,5% (n = 9) |
Thang điểm 0 - 20 |
|
Trung bình (10 - 14 điểm) |
50,0% (n = 20) |
|
|
Kém (< 10 điểm) |
27,5% (n = 11) |
|
| Mức độ thực hành chung |
Tốt ($\ge 15$ điểm) |
60,0% (n = 24) |
Thang điểm 0 - 21 |
|
Trung bình (11 - 14 điểm) |
32,5% (n = 13) |
|
|
Kém ($\le 10$ điểm) |
7,5% (n = 3) |
|
| Tương quan thống kê |
Kiến thức $\times$ Thời gian mắc bệnh |
— |
$p = 0,01 < 0,05$ (Có ý nghĩa) |
|
Thực hành $\times$ Nghề nghiệp |
— |
$p = 0,012 < 0,05$ (Có ý nghĩa) |
| Lỗ hổng nhận thức lớn nhất |
Nhầm lẫn về ngâm chân nước nóng |
90,0% (n = 36 trả lời sai) |
Nguy cơ bỏng nhiệt |
|
Đi chân trần trong nhà |
83,5% (n = 33 trả lời sai) |
Nguy cơ chấn thương cơ học |
|
Không biết tác hại của thuốc lá |
67,5% (n = 27 trả lời sai) |
Co thắt mạch máu chi dưới |
Đóng góp thực tiễn và khuyến nghị của tác giả
- Đóng góp khoa học: Khóa luận chỉ ra thực trạng chênh lệch giữa thực hành chung và kiến thức phòng ngừa chuyên sâu: dù 60% bệnh nhân đạt điểm thực hành tốt trên tổng thể, nhận thức về các hành vi nguy cơ cốt lõi (đi chân trần trong nhà, ngâm chân nước ấm/nóng, tác hại thuốc lá) lại thiếu hụt nghiêm trọng. Dữ liệu này giúp bổ sung bằng chứng thực chứng tại Bệnh viện Thanh Nhàn giai đoạn 2023, tiếp nối nghiên cứu ngoại trú năm 2021 của Vũ Phương Anh.
- Khuyến nghị can thiệp:
- Điều dưỡng lâm sàng tại khoa Nội tiết cần xây dựng quy trình hướng dẫn cụ thể về tự chăm sóc bàn chân ngay khi người bệnh nhập viện điều trị.
- Tập trung truyền thông xóa bỏ thói quen ngâm chân nước nóng và thói quen đi chân trần trong nhà.
- Cung cấp tài liệu hướng dẫn trực quan về cách xử trí khi da chân bị khô và hướng dẫn khám bàn chân định kỳ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các hạn chế phương pháp luận và sai số thực địa sau:
- Phương pháp thu thập tự báo cáo: Bộ công cụ đo lường thực hành tự chăm sóc bàn chân được thiết kế dưới dạng phiếu hỏi (phỏng vấn và người bệnh tự điền), do đó chưa đánh giá được hoàn toàn khách quan hành vi thực tế hàng ngày của người bệnh so với phương pháp quan sát bảng kiểm trực tiếp.
- Sai số nhớ lại (Recall bias): Người bệnh có thể không nhớ chính xác các chi tiết lâm sàng hoặc hành vi chăm sóc trong quá khứ khi trả lời phỏng vấn.
- Sai số giao tiếp và chủ quan: Nguy cơ sai số ngẫu nhiên do điều tra viên giải thích chưa đồng nhất hoặc người bệnh hiểu chưa trọn vẹn nội dung câu hỏi.
- Quy mô mẫu hạn chế: Nghiên cứu thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu $n = 40$ tại một khoa phòng nội trú trong thời gian ngắn (tháng 9/2023), do đó khả năng suy rộng cho toàn bộ quần thể bệnh nhân ĐTĐ còn hạn chế.
Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng cỡ mẫu đa trung tâm, kết hợp theo dõi dọc can thiệp giáo dục sức khỏe điều dưỡng và sử dụng bảng kiểm quan sát thực hành trực tiếp tại gia đình hoặc phòng khám ngoại trú.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận mang lại giá trị thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Sinh viên và học viên ngành Điều dưỡng: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách áp dụng công thức cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ có hệ số tin cậy 80%, và phương pháp phân tích kiểm định số liệu bằng SPSS 26 trong khối ngành khoa học sức khỏe.
- Điều dưỡng lâm sàng tại các khoa Nội tiết - Đái tháo đường: Dữ liệu về các điểm thiếu hụt kiến thức (ngâm chân nước nóng, đi chân trần trong nhà, nhận biết mất cảm giác) là cơ sở thiết thực để xây dựng góc tư vấn giáo dục sức khỏe và bảng kiểm hướng dẫn người bệnh trước khi xuất viện.
- Nghiên cứu viên về giáo dục sức khỏe: Cung cấp bộ công cụ phỏng vấn gồm 20 câu kiến thức và 21 câu thực hành đã được kiểm tra tính giá trị và độ tin cậy tại Việt Nam (dựa trên chuẩn ADA và IDF), thuận tiện cho việc tái sử dụng trong các nghiên cứu can thiệp tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng bộ công cụ nào để đo lường kiến thức và thực hành chăm sóc bàn chân của người bệnh?
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi gồm 3 phần (tổng Cronbach's Alpha = 0,606): Phần 1 gồm 6 câu thông tin nhân khẩu học; Phần 2 gồm 20 câu hỏi kiến thức (độ giá trị 0,89, độ tin cậy 0,84); Phần 3 gồm 21 câu hỏi thực hành (độ giá trị 0,91, độ tin cậy 0,91). Bộ công cụ được xây dựng dựa trên hướng dẫn của ADA (2008) và IDF (2008), đã qua chuẩn hóa tại Việt Nam bởi Nguyễn Thị Bích Đào và Vũ Thị Là.
2. Tỷ lệ phân loại kiến thức và thực hành chung của 40 bệnh nhân trong nghiên cứu đạt mức nào?
Về kiến thức: mức tốt ($\ge 14$ điểm) chiếm 22,5%; mức trung bình (10 - 14 điểm) chiếm 50,0%; mức kém (< 10 điểm) chiếm 27,5%. Về thực hành: mức tốt ($\ge 15$ điểm) chiếm 60,0%; mức trung bình (11 - 14 điểm) chiếm 32,5%; mức kém ($\le 10$ điểm) chiếm 7,5%.
3. Những yếu tố nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức và thực hành của người bệnh?
Phân tích thống kê ghi nhận: Thời gian mắc bệnh ĐTĐ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức tự chăm sóc bàn chân ($p = 0,01 < 0,05$), trong đó người mắc bệnh lâu năm (> 10 năm) có kiến thức tốt hơn người mắc bệnh ít năm. Nghề nghiệp của người bệnh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực hành tự chăm sóc bàn chân ($p = 0,012 < 0,05$).
4. Khóa luận ghi nhận nhận thức sai lầm phổ biến nhất của người bệnh ở những nội dung nào?
Hai nhận thức sai lầm có tỷ lệ cao nhất là: 90,0% người bệnh trả lời sai hoặc không biết về việc không được ngâm chân nước nóng; và 83,5% người bệnh cho rằng có thể đi chân trần trong nhà (chỉ có 17,0% trả lời đúng không được đi chân trần trong nhà). Ngoài ra, 67,5% bệnh nhân không nhận thức được tác hại của thuốc lá đối với tuần hoàn mạch máu bàn chân.
5. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu đã được Hội đồng và tác giả thống nhất chỉnh sửa gồm những gì?
Theo bản giải trình sửa chữa sau bảo vệ ngày 23/10/2023, tiêu chuẩn loại trừ chính thức gồm: người bệnh trong tình trạng nặng hoặc có vấn đề về tâm thần; người bệnh khó khăn trong việc nghe, nói, đã cắt cụt cả 2 chân; người bệnh bất đồng ngôn ngữ, mất khả năng tự chăm sóc bản thân; và người bệnh từ chối tham gia hoặc đã được phỏng vấn trước đó.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Nhật Giao đã hoàn thành việc khảo sát mô tả cắt ngang trên 40 bệnh nhân ĐTĐ điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2023, làm rõ thực trạng kiến thức chăm sóc bàn chân mức tốt chỉ đạt 22,5% trong khi điểm thực hành tốt đạt 60,0%. Nghiên cứu xác lập bằng chứng thực nghiệm về mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc bệnh với kiến thức ($p = 0,01$) và giữa nghề nghiệp với thực hành tự chăm sóc ($p = 0,012$). Đồng thời, công trình chỉ ra các lỗ hổng nhận thức nghiêm trọng trong việc đi chân trần trong nhà và ngâm chân nước nóng, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho hoạt động tư vấn giáo dục sức khỏe điều dưỡng lâm sàng.