CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm - Đái tháo đường là suy giảm bài tiết insulin và nồng độ kháng insulin ngoại vi thay đổi dẫn đến tăng đường huyết. Triệu chứng sớm liên quan tới tăng glucose máu và bao gồm uống nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều và nhìn mờ. Biến chứng muộn gồm bệnh mạch máu, bệnh thần kinh ngoại vi, bệnh thận và dễ nhiễm khuẩn. Chẩn đoán bằng định lượng glucose huyết tương.
Điều trị gồm chế độ ăn, tập luyện, và thuốc để giảm glucose máu, bao gồm insulin, thuốc uống hạ đường huyết và thuốc tiêm không phải insulin. Biến chứng có thể trì hoãn hoặc phòng tránh với kiểm soát đường huyết đầy đủ; bệnh lý tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường[4]. - Đái tháo đường có thể chia thành 3 loại thường gặp bao gồm đái tháo đường type 1, đái tháo đường type 2 và đái tháo đường thai kỳ. + Đái tháo đường type 1: Hay còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin, người mắc bệnh bị thiếu insulin do tế bào beta của tuyến tụy bị phá hủy gây giảm tiết insulin hoặc không tiết ra insulin.
Đái tháo đường type 1 hiếm gặp hơn type 2 và thường xảy ra ở người trẻ. + Đái tháo đường type 2: Hay còn gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin, cơ thể người mắc bệnh vẫn có khả năng sản xuất insulin nhưng insulin không thể chuyển hóa (điều hòa) được lượng đường trong máu, do giảm chức năng của tế bào beta tuyến tụy tiến triển trên nền tảng kháng insulin. Hầu hết những người bị đái tháo đường thuộc type 2, chiếm khoảng 90% đến 95% tổng số [5]. + Đái tháo đường thai kỳ: Do tình trạng kháng insulin xảy ra trong quá trình mang thai, thường xuất hiện ở phụ nữ mang thai tuần thứ 24 trở lên và không có bằng chứng về đái tháo đường type 1 hoặc type 2 trước đó [5].
5 Ngoài ra, còn có đái tháo đường thứ phát do các nguyên nhân như khiếm khuyết về gen, đái tháo đường do các bệnh lý nội khoa hoặc do sử dụng thuốc, sử dụng hoá chất như glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô,… - Bàn chân đái tháo đường (ĐTĐ) được định nghĩa là bàn chân của các bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị các tổn thương bệnh lý gồm nhiễm khuẩn, loét, và/hoặc sự phá hủy các mô sâu liên quan tới các bất thường về thần kinh, một số giai đoạn của bệnh mạch máu ngoại vi và/hoặc các biến chứng chuyển hóa của đái tháo đường ở các chi dưới [6]. Thực trạng vấn đề bàn chân của bệnh nhân ĐTĐ 1.1 Trên thế giới Hiện nay, số lượng bệnh nhân tiểu đường có các vấn đề về bàn chân càng ngày càng tăng cao, đặc biệt là về các tổn thương do loét. Nhưng bên cạnh đó kiến thức và chăm sóc của người bệnh còn rất hạn chế, các nghiên cứu đã đưa ra cụ thể các chỉ số liên quan. Trên thế giới, theo nghiên cứu của chủ nhiệm đề tài Aydin Pourkaxemi với chủ đề “Chăm sóc bàn chân đái tháo đường: kiến thức và thực hành” cho kết quả điểm trung bình về kiến thức là 8,63(+,-) 2,5/15, cho thấy đa số bệnh nhân kiến thức kém (84,8%).
Điểm thực hành trung bình là 7,6(+,-) 2,5 trên q5, cho thấy rằng một nửa họ có hiệu suất kém (49,6%)[7]. Một nghiên cứu khác của tác giả Faraja S. Chiwanga và Marina A. Njelekela với đề tài “Bàn chân đái tháo đường: tỷ lệ hiện mắc, kiến thức thực hành tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường tại Dar es Salaam, Tanzania” cho kết quả trong số 404 bệnh nhân tham gia nghiên cứu này, 15% bị loét bàn chân, 44% mắc bệnh thần kinh ngoại biên và 15% mắc bệnh mạch máu ngoại biên.
Trong phân tích đa biến, bệnh lý thần kinh ngoại biên và điều trị bằng insulin có liên quan đáng kể đến sự hiện diện của loét bàn chân. Điểm kiến thức trung bình là 11,2 ± 6,4 trên tổng số điểm có thể là 23. Điểm trung bình thấp có 6 liên quan đến việc thiếu giáo dục chính quy (8,3 ± 6,1), thời gian mắc bệnh tiểu đường < 5 năm (10,2 ± 6,7) và không nhận được lời khuyên khi đi bộ chăm sóc (8,0 ± 6,1). Trong số 404 bệnh nhân, 48% đã nhận được lời khuyên về cách chăm sóc bàn chân và 27,5% đã được bác sĩ khám bàn chân ít nhất một lần kể từ lần chẩn đoán ban đầu.
Khả năng tự chăm sóc bàn chân cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân đã nhận được lời khuyên về cách chăm sóc bàn chân và ở những người đã được bác sĩ khám bàn chân ít nhất một lần [8]. Tiếp đó, tác giả Abdu Tuha và cộng sự nghiên cứu “Kiến thức và thực hành về bàn chân đái tháo đường tự chăm sóc và các yếu tố liên quan giữa bệnh tiểu đường bệnh nhân tại Bệnh viện Dessie Referral, Đông Bắc Ethiopia” cho kết quả 68 (19,8%) bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng, trong số đó 97 (28%) bị loét bàn chân. Gần 2/3 (217 (61,3%): 95% CI (57,6–68,3%)) và 134 (39%; 95% CI:34,3–45,1%) bệnh nhân đái tháo đường có kiến thức và thực hành tốt về tương ứng là tự chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân tiểu đường. Bệnh thận đái tháo đường ((AOR): 0,03, KTC 95% (0,00–0,27)) có liên quan đến kiến thức về tự chăm sóc bàn chân.
Thực hành tự chăm sóc bàn chân là liên quan đến nữ ((AOR: 2,07, 95% CI (1,04–4,12)), tuổi 21–30 ((AOR: 6,42, 95% CI (1,54–26,8)), 31–40 tuổi ((AOR: 7,4, 95% CI (1,42–39,05)), 41–50 tuổi ((AOR: 8,4, 95% CI (1,4–50,6)), độc thân ((AOR: 0,35, 95% CI (0,150–0,81)), sống ở nông thôn ((AOR: 0,31, 95% CI (0,18–0,545)) và không có bệnh đi kèm ((AOR: 0,406, 95% CI (0,18–0,88))[9]. Nghiên cứu “ Kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến phòng ngừa bàn chân đái tháo đường ở người trưởng thành nông thôn mắc bệnh đái tháo đường ở Bắc Trung Quốc” do tác giả Huimin Jia, Xiaocheng Wang và Jingmin Cheng nghiên cứu cho kết quả trong số 1.080 môn thi, 51,6% đạt điểm kiến thức trung bình, 63,9% thái độ tích cực và 7112222,4% điểm thực hành kém. Về kiến thức, thông số kiến thức về khám chân và điều trị các vấn đề về chân cho điểm thấp nhất. Về mặt thực hành, phù hợp với kết quả của điểm kiến thức thấp, các thông số về việc theo đuổi điều trị y tế cho các vấn đề về chân và khám chân định kỳ có liên quan đến điểm thấp nhất.
Bệnh nhân có thời gian mắc bệnh tiểu đường dài (6–10 năm) có điểm thực hành tốt 7 hơn so với những người có thời gian mắc bệnh tiểu đường ngắn (<2 năm; β: 0,072, KTC 95%: 0,012–0,131). Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc bàn chân của bệnh nhân bị bệnh tiểu đường và cắt cụt bàn chân ở St. Kitts và Nevis” của tác giả Gracelyn Hanley và cộng sự có bảng câu hỏi về phát triển bản thân được áp dụng để đánh giá nhân khẩu học, thể chất và hành vi của bệnh nhân, kiến thức chăm sóc bàn chân, thái độ, và các thông lệ liên quan đến DFA. Chi-square, t-test và hồi quy logistic nhiều lần đã được sử dụng để phân tích dữ liệu.
Tổng cộng có 210 bệnh nhân được đánh giá, 89 bệnh nhân có DFA, trong khi 121 thì không, với tuổi trung bình là 61,10 (SD = 11,85)[11]. Những người tham gia câu trả lời cho thấy kiến thức tốt, thái độ thuận lợi và thực hành đầy đủ liên quan đến chăm sóc bàn chân. “ Đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân giữa các bệnh nhân đái tháo đường trong chăm sóc cấp ba trung tâm ở Makkah, Ả Rập Saudi: một mặt cắt ngang nghiên cứu phân tích”của tác giả Abrar Ali Wazqar phân tích được trên 409 người. Kết quả cho thấy độ tuổi của người tham gia nằm trong khoảng từ 18 đến 75 tuổi với giá trị trung bình là 42,6 và độ lệch chuẩn (SD) là 13,9 năm.
Nữ giới chiếm 51,1% những người tham gia. Phần lớn những người được hỏi là đã kết hôn (70,8%), người Ả Rập Xê Út (94,6%) và sống ở thành thị (85,3%). Gần hai phần ba (62,1%) thất nghiệp và có thu nhập 57,2% dao động trong khoảng 5.000 Ả Rập Riyal/tháng. Bệnh tiểu đường loại 2 đã phổ biến trong số 85,6% số người tham gia.
Về nguồn thông tin chính về bàn chân đái tháo đường trong số những người tham gia, nhân viên y tế đứng đầu (76,8%), tiếp theo là bạn bè/người thân (13,4%)[12]. Một nghiên cứu liên quan khác với chủ đề “Bệnh bàn chân liên quan đến bệnh tiểu đường ở Úc: một đánh giá có hệ thống về tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mắc các yếu tố nguy cơ, bệnh tật và cắt cụt chi trong dân số Úc” của tác giả Yuqi Zhang và cộng sự. Kết quả cho thấy trong tổng số người bị bệnh tiểu đường, tỷ lệ rủi ro các yếu tố dao động từ 10,0– 58,8%, của DFD từ 1,2–1,5% và tỷ lệ cắt cụt chi liên quan đến bệnh tiểu đường dao 8 động từ 5,2–7,2 trên 1000 người/ năm. Ngoài ra, tỷ lệ nhập viện liên quan đến DFD dao động từ 5,2–36,6 trên 1000 người/năm trong quần thể bệnh tiểu đường.
Hơn nữa, trong số những bệnh nhân nội trú mắc bệnh tiểu đường, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ mắc các yếu tố rủi ro dao động từ 35,3–43,3%, DFD từ 7,0–15,1% và cắt cụt chi khi nhập viện từ 1,4–5,8% [13].2 Ở Việt Nam Theo nghiên cứu “Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa Xanh pôn năm 2021” của tác giả Đỗ Đình Tùng cho kết quả: thời gian mắc bệnh ≥ 5 năm có kiến thức, thái độ, thực hành tốt hơn nhóm <5 năm [14]. Nghiên cứu “Kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2021” của tác giả Vũ Phương Anh và cộng sự cho kết quả điểm trung bình kiến thức là 15,4 ± 3,83, trong đó người bệnh có mức độ kiến thức kém chiếm 15,0%, mức độ kiến thức trung bình chiếm 16,3% và mức độ kiến thức tốt chiếm 68,6%.Điểm trung bình thực hành chăm sóc bàn chân của người bệnh là 72,7 ± 12,2 với những người bệnh có điểm thực hành được loại ở mức kém chiếm 6,5%, trung bình chiếm79,1%, và thực hành tốt/đúng chỉ chiếm 14,4%. Kết quả phân tích mối tương quan chỉ ra rằng kiến thức và thời gian phát hiện bệnh có mối tương quan với thực hành tự chăm sóc bàn chân với các giá trị tương ứng r=0,45 với p<0,001 và r = -0,23 với p<0,01 [15].