CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa Trong nhiều năm, đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) được định nghĩa là bất kỳ mức độ không dung nạp glucose nào được nhận ra lần đầu trong thai kỳ, cho dù tình trạng này có thể xảy ra trước khi mang thai hay kéo dài sau thai kỳ. Định nghĩa này đưa ra một chiến lược thống nhất để phát hiện và phân loại ĐTĐTK, nhưng nó vẫn còn nhiều hạn chế [28]. Trong những năm gần đây, Hiệp hội quốc tế các nhóm nghiên cứu đái tháo đường và thai kỳ (IADPSG), Hiệp hội Đái tháo đường thai kỳ (ADA), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và một số tổ chức khác đã cố gắng đưa ra những hướng dẫn để phân biệt thai phụ mắc đái tháo đường trước mang thai và thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ.
Lý do của sự thay đổi này là vì hiện nay tỷ lệ phụ nữ béo phì và mắc đái tháo đường típ 2 mà chưa được chẩn đoán trước đó tăng cao. Theo ADA 2018: Phụ nữ mang thai, phát hiện và chẩn đoán ĐTĐ trong 3 tháng đầu của thai kỳ được xem là ĐTĐ típ 2 (tiêu chuẩn chẩn đoán giống người không mang thai). Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là đái tháo đường được chẩn đoán vào 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ và không phải dạng ĐTĐ có xuất hiện triệu chứng rõ trước đó [28]. Dịch tễ học ĐTĐTK Tỷ lệ đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose đang gia tăng trong những thập kỷ gần đây.
Do tình trạng gia tăng đái tháo đường típ 2 đặc biệt là ở người trẻ, dẫn đến tăng số phụ nữ bị ảnh hưởng trong thai kỳ. Ví dụ: theo CDC năm 2015 ước tính rằng có hơn 5000 trường hợp mới mắc đái tháo đường típ 2 mỗi năm ở thanh niên trước 20 tuổi. Feig và đồng nghiệp 2014 đã báo cáo rằng tỷ lệ ĐTĐTK tăng gấp đôi từ 7/1000 năm 1996 lên đến 15/1000 trong năm 2010 [50]. Tốc độ thay đổi này Tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu này khi trích dẫn. 5 được thúc đẩy do quá trình đô thị hóa nhanh và những biến động mạnh mẽ trong lối sống công nghiệp, ít vận động. Ước tính chính xác về gánh nặng của đái tháo đường hiện tại và tương lai rất cần thiết để phân bổ nguồn lực y tế và cộng đồng nhằm tìm ra chiến lược để chống lại xu hướng này. Theo IDF, trong năm 2017 có khoảng 21.3 triệu ca sinh sống bị ảnh hưởng bởi một dạng tăng đường huyết trong thai kỳ.
Trong đó ĐTĐTK chiếm 18.4 triệu trường hợp (86.4%), còn lại là các bệnh đái tháo đường khác phát hiện trong thai kỳ chiếm 7.4% và đái tháo đường trước thai kỳ là 6. Khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ tăng đường huyết trong thai kỳ cao nhất với 26.6%, trong khi đó Châu Phi có mức thấp nhất 9. Tỷ lệ lưu hành theo tuổi của tăng đường huyết trong thai kỳ ở phụ nữ từ 20-49 tuổi theo khu vực năm 2017 [46] (Trích từ https://www.gov/pubmed/29496507) Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ và CK II cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK rất thay đổi và đang gia tăng theo sự phát triển đời sống và sự thay đổi môi trường. Tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu này khi trích dẫn. Tỷ lệ ĐTĐTK tại Việt Nam của một số tác giả Tỷ lệ Tác giả Năm Đối tượng Địa điểm NPDNG (%) Ngô Thị Kim Phụng 2004 Tầm soát Quận 4 TP 50gr-1 giờ 3. Hồ Chí 75gr-2 giờ Minh WHO Tô Thị Minh Nguyệt 2009 Tầm soát Bệnh viện 50gr-1 giờ 10.69 [14] nhóm nguy Từ Dũ 75gr-2 giờ cơ trong WHO bệnh viện Lê Thị Hoàng Phượng 2013 Đại trà Bệnh viện 75gr-2 giờ 3.6 [17] Tân Bình WHO 2010 Lại Thị Ngọc Điệp 2014 Đại trà Châu Thành 75gr-2 giờ 20.5 [9] Tiền Giang ADA 2012 Võ Thị Ánh Nhàn 2016 Đại trà Bệnh viện 75gr-2 giờ 8.9 [15] An Bình ADA 2015 Trương Thị Quỳnh Hoa 2016 Đại trà BVĐK 75gr-2 giờ 20.9 [11] Bình Định ADA 2015 Trương Thị Ái Hòa 2017 Đại trà Bệnh viện 75gr-2 giờ 18.9 [12] Quận 2 ADA 2015 Huỳnh Ngọc Duyên 2018 Đại trà BV Sản Nhi 75gr-2 giờ 21.25 [3] Cà Mau ADA 2016 1. Điều hòa glucose trong thai kỳ Trong thai kỳ bình thường, cơ thể mẹ trải qua một loạt các thay đổi về sinh lý để hổ trợ nhu cầu của thai nhi đang phát triển.
Chúng bao gồm sự thích nghi của hệ thống tim mạch, thận, huyết học, hô hấp và trao đổi chất. Một sự thích nghi trao đổi chất quan trọng là độ nhạy insulin. Trong suốt quá trình mang thai, độ nhạy insulin thay đổi tùy theo nhu cầu của thai kỳ. Trong thời kỳ đầu mang thai, độ nhạy insulin tăng lên, thúc đẩy sự hấp thu glucose vào mô mỡ để chuẩn bị cho nhu cầu năng lượng trong giai đoạn sau.
Tuy nhiên, càng về sau sự gia tăng các hormon của nhau thai bao gồm: estrogen, progesterone, leptin, cortisol, hormone tăng trưởng làm thúc đẩy tăng tình trạng kháng insulin đồng thời nhu cầu insulin trong cơ thể mẹ cũng tăng khi thai Tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu này khi trích dẫn. 7 phát triển gây ra tình trạng thiếu hụt insulin tương đối. Tình trạng kháng insulin nhẹ này cũng làm tăng sản xuất glucose nội sinh, phá vỡ các mô dự trữ chất béo nên tăng nồng độ glucose trong máu và các acid béo tự do.
Bằng chứng ở động vật cho thấy để duy trì cân bằng nội môi, khi mang thai sẽ có sự bù đắp những thay đổi này thông qua việc phì đại và tăng sản tế bào beta tuyến tụy cũng như tăng tiết insulin do glucose kích thích [110]. Tầm quan trọng của hormone nhau thai trong quá trình này được minh họa bằng thực tế là độ nhạy insulin của mẹ sẽ trở lại mức trước khi mang thai trong vài ngày sau sinh. Sự kết hợp các yếu tố trên làm cho thai phụ có xu hướng mắc ĐTĐTK ở nửa sau của thai kỳ. Estrogen và progesterone có sự tác động khác nhau trên hoạt động của insulin ở cơ thể thai phụ.
Estrogen làm tăng đáp ứng của mô với insulin, trong khi progesterone lại là chất kháng nhẹ làm giảm nhạy cảm của mô với insulin. Vì vậy trong giai đoạn đầu mang thai, hai hormone này trung hòa nhau trong việc tác động lên insulin và giữ nồng độ glucose ở mức bình thường [57]. Trong nửa sau của thai kỳ, do sự thay đổi nồng độ hPL tiết ra từ nhau thai, làm tăng sản và thay đổi chức năng tế bào beta gây tăng insulin trong cơ thể thai phụ, nồng độ hPL cao sẽ làm giảm nhạy cảm insulin [53], [101]. Tóm lại, thai kỳ được xem là cơ địa thuận lợi gây ra đái tháo đường vì các hormone nhau thai làm giảm nhạy cảm của các mô với insulin, từ đó gây ra rối loạn dung nạp glucose ở thai phụ, hay làm tăng lượng insulin cần thiết ở thai phụ đã có bệnh đái tháo đường trước đó.
Bệnh sinh của đái tháo đường thai kỳ Đái tháo đường thai kỳ là kết quả của rối loạn chức năng tế bào beta khi mang thai trên nền kháng insulin và giảm nhạy cảm insulin tại mô. Trong hầu hết các trường hợp, những suy yếu này tồn tại trước mang thai và có thể tiến triển thành đái tháo đường típ 2 sau mang thai. Một số cơ quan và hệ thống như: não, gan, cơ và nhau thai sẽ bị ảnh hưởng bởi ĐTĐTK [110]. Tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu này khi trích dẫn. Rối loạn chức năng tế bào beta Chức năng chính của tế bào beta là dự trữ và tiết ra insulin để đáp ứng với lượng glucose trong máu. Khi tế bào beta mất khả năng cảm nhận nồng độ glucose trong máu hoặc giải phóng đủ insulin thì được phân loại là rối loạn chức năng tế bào beta. Rối loạn chức năng tế bào beta được cho là kết quả của việc sản xuất insulin quá mức, kéo dài để đáp ứng với lượng glucose dư thừa mãn tính.
Tuy nhiên các cơ chế chính xác làm rối loạn chức năng tế bào beta có thể rất đa dạng và phức tạp [102]. Rối loạn chức năng tế bào beta bị trầm trọng hơn do kháng insulin. Giảm nhạy cảm insulin do kích thích glucose sẽ góp phần làm tăng đường huyết, làm quá tải cho các tế bào beta phải sản xuất thêm insulin. Sự ảnh hưởng của nồng độ glucose lên rối loạn chức năng tế bào beta được mô tả như một tình trạng nhiễm độc glucose.
Do đó, khi rối loạn chức năng tế bào beta bắt đầu, một chu kỳ tăng đường huyết, kháng insulin, rối loạn chức năng tế bào beta tiếp tục thiết lập. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy số lượng tế bào beta cũng tham gia cân bằng nội môi. Ví dụ: chuột béo Zucker đã được phẫu thuật cắt bỏ 60% tuyến tụy, chủ yếu phục hồi khối lượng beta sau 1 tuần nhưng vẫn bị tăng đường huyết. Trong những trường hợp này, việc giảm khối lượng tế bào beta trong thời gian ngắn đã làm các tế bào beta còn lại quá tải, dẫn đến yếu tố quyết định là giảm nhạy cảm insulin.
Sự mất khối lượng tế bào beta này liên quan đến sự điều hòa gen của yếu tố Pdx1, rất cần cho sự biệt hóa tế bào beta bình thường ở phôi thai [51]. Prolactin cũng rất cần thiết cho sự kết hợp tế bào beta đầy đủ đã được chứng minh trong các lần diệt thụ thể prolactin chuột. Ngoài ra, ngộ độc glucose cũng được cho là kết quả của quá tải tế bào beta [32]. Tuyến tụy trong đái táo đường típ 2 cũng do giảm khối lượng tế bào beta 40- 60% nhưng chỉ dưới 24% sau 5 năm bị bệnh mới được tìm thấy.
Tăng sản tế bào beta cũng có thể là nguyên nhân gây ĐTĐTK. Do đó, giảm khối lượng tế bào beta, số lượng tế bào beta, rối loạn chức năng tế bào beta hoặc phối hợp cả ba cơ chế trên gây ĐTĐTK [18]. Tuân thủ Luật Sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử. Ghi rõ nguồn tài liệu này khi trích dẫn.
Tình trạng kháng insulin mạn tính Kháng insulin xảy ra khi các tế bào không còn đáp ứng đầy đủ với insulin. Ở cấp độ phân tử, kháng insulin thường là do thất bại của tín hiệu insulin dẫn đến chất vận chuyển glucose 4 (GLUT4) dịch chuyển qua màng huyết tương không đủ, đây là chất vận chuyển chính chịu trách nhiệm đưa glucose vào tế bào để tạo năng lượng [53].