ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thực phẩm. Nhờ mức sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu tiêu thụ thịt bò ngày càng tăng nhanh chóng, điều đó đang thúc đẩy và là cơ hội để ngành chăn nuôi phát triển. Tháng 10/2016, đàn bò nước ta có 5,5 triệu con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2015; sản lượng thịt bò đạt 308,6 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Theo công bố của Cục Chăn nuôi, năm 2016, bình quân thịt bò/người/năm của nước ta mới chỉ là 3,5 kg.
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi của Bộ nông nghiệp và PTNT, chăn nuôi bò được khuyến khích phát triển với mục tiêu đến năm 2020, đàn bò cả nước ước đạt 12,5 triệu con. Hiện nay, phần lớn bò thịt ở nước ta được nuôi trong nông hộ, qui mô nhỏ, phân tán nên việc áp dụng qui trình kỹ thuật khép kín từ chăn nuôi, vỗ béo bò đến thị trường chưa đồng bộ và phát triển rộng rãi. Trong chăn nuôi bò thịt thì khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt ngoài phụ thuộc con giống còn phụ thuộc rất nhiều vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, vỗ béo là một khâu quan trọng để tăng năng suất và chất lượng thịt. Thời gian vỗ béo ngắn nhưng năng suất và chất lượng thịt tốt là điều mà người chăn nuôi ai cũng mong muốn.
Để nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò thịt, thành phố Hà Nội có nhiều chương trình, dự án phát triển bò thịt chất lượng cao đã được triển khai và thực hiện. Các chương trình này đã nhập tinh bò chuyên dụng thịt nổi tiếng của các nước khác như Charolais, Limousin của Pháp; Hereford, Shorthorn, Angus của Anh, Simmental của Thụy Sĩ, Brahman của Mỹ, Droughtmaster của Úc,…. để phối với bò cái nền lai Sind ở các huyện ngoại thành thành phố. Qua các nghiên cứu cho thấy các bê lai sinh ra thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nước ta, ít mắc bệnh, khối lượng sơ sinh cao và sinh trưởng nhanh.
Tiếp tục thực hiện công tác lai, tạo đàn bò chuyên thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong những năm 2004-2009 thành phố triển khai đề tài: “Khảo sát công thức lai tạo giống bò thịt cao sản từ bò lai Sind với bò BBB của Bỉ ứng dụng trong chăn nuôi bò thịt ở Hà Nội” do Công ty cổ phần Giống gia súc Hà Nội thực hiện, kết quả đã tạo ra những con lai có chất lượng cao hơn các tổ hợp 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lai khác 30-40%. Tuy nhiên, để con giống thể hiện hết tiềm năng duy truyền tốt cần phải có thức ăn phù hợp, đầy đủ, cân đối các chất dinh dưỡng và năng lượng với chúng, công ty cổ phần giống Gia súc Hà Nội cũng đã nghiên cứu mức năng lượng và protein thích hợp cho nhóm bò lai này (BBB x lai Sind) ở các giai đoạn khác nhau và cho thấy, ở giai đoạn nuôi vỗ béo 19-21 tháng tuổi, mức năng lượng và protein trong chất khô là 11,0MJ ME /kg và 13% protein thô là phù hợp, việc nghiên cứu khẩu phần thích hợp cho nhóm đối tượng này trên cơ sở các nguyên liệu sẵn có tại các vùng chăn nuôi bò thịt của thành phố Hà Nội là việc làm cần thiết. Để có cơ sở khoa học và phát triể n dự án chăn nuôi bò thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá một số khẩu phần ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho bò lai (BBB x Lai Sind) giai đoạn nuôi vỗ béo 19-21 tháng tuổi”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1.
Mục đích Xác định được khẩu phần ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho bò lai (BBB x Lai Sind) giai đoạn nuôi vỗ béo 19-21 tháng tuổi nuôi tại ngoại thành Hà Nội. Yêu cầu Đánh giá được khả năng sinh trưởng của bò lai F1(BBB x Laisind) qua các tháng thí nghiệm. Thu thập, ghi chép số liệu một cách chính xác và khoa học. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ THỊT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình chăn nuôi bò thịt trên Thế giới Năm 2012, Thế giới có 1485,2 triệu đàn trâu và bò, trong đó đàn bò chiếm khoảng 960 triệu con (FAO, 2012). Sản lượng thịt bò của thế giới theo số liệu thống kê của FAO năm 2014, tổng sản lượng thịt bò của thế giới đạt 63,28 triệu tấn, trong đó các nước châu Á là 14,18 triệu tấn, chiếm 22,41% sản lượng thịt bò thế giới, chứng tỏ sản lượng thịt bò của châu Á rất thấp so với phần còn lại của thế giới.
Nguyên nhân chính là do bò ở khu vực châu Á có khối lượng cơ thể bé, khả năng sinh trưởng thấp và sinh sản chậm. Hai nước có sản lượng thịt bò cao nhất thế giới là Brazil và Mỹ (9.003,03 triệu kg), tuy nhiên bình quân đầu người cao nhất là Úc (63,35 kg/người/năm), Argentina (59,80 kg/người/năm). Một số giống bò chuyên dụng thịt như: Limousin (Pháp), Simmental (Thụy Sỹ), BBB (Bỉ), Droughtmaster (Úc), Shindhi,… Bảng 2. Sản lượng thịt bò hơi bình quân đầu người một số nước trên thế giới Dân số Sản lượng thịt bò Bình quân đầu người Quốc gia (triệu người) (triệu kg) (kg\người\năm) Brazil 194,0 9.293,42 63,35 Canada 34,8 999,30 28,72 Indonesia 241,0 413,00 1,71 Việt Nam 88,7 294,00 3,31 Bangladesh 153,0 195,02 1,27 Pakistan 180,0 139,00 0,77 1.
Tình hình chăn nuôi bò thịt trong nước. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2016, đàn bò nước ta 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có 5,5 triệu con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2015 (Cục Chăn nuôi, 2016). Bò được nuôi nhiều ở vùng trung du, miền núi và vùng ven biển đất cát nhẹ. Do quá trình thích nghi và chọn lọc tự nhiên đã hình thành nên giống bò Vàng Việt Nam, chiếm gần 70% tổng đàn bò cả nước.
Bò vàng Việt Nam là một nhóm bò thuộc giống bò vàng phương nam (giống bò hình thành do lai tạo giữa nhóm Bos Taurus và nhóm Bosindicus). Giống bò vàng Việt Nam có nguồn gốc từ nhiều giống bò của các nước lân cận như: Lào, Campuchia, Mianma, Ấn Độ và Trung Quốc nhưng chủ yếu được hình thành từ hai giống bò Trung Quốc và Ấn Độ. Qua nhiều đời tạp giao giữa các giống bò trên đã hình thành nên giống bò Vàng Việt Nam. Bò Vàng Việt Nam thuộc nhóm bò thịt, dùng để lấy thịt bò và dùng lấy sức kéo.
Bò có sắc lông màu vàng, vàng nhạt hoặc vàng đậm, nên có tên chung là bò Vàng Việt Nam và gọi theo tên địa danh như: Bò Thanh Hoá, bò Cao Bằng, bò Nghệ An, bò Phú Yên. Bò lai hiện nay cũng đã có mặt ở hầu hết các tỉnh, một số giống như: Lai Sind, lai Sahiwal, Brahman,… Bảng 2. Số lượng bò theo vùng sinh thái qua các năm 2010 - 2014 (nghìn con) Năm Vùng 2010 2011 2012 2013 2014 Đồng bằng sông Hồng 621 589 501 478 469 Trung du và miền núi phía Bắc 1.057 914 891 879 889 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 2.082 Tây Nguyên 690 684 651 655 660 Đông Nam Bộ 696 324 293 269 250 Đồng bằng sông Cửu Long 678 654 615 627 654 Cả nước 5. Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014) 2.
Một số giống bò thịt tại Việt Nam và trên thế giới Bò Charolais Giống bò Charolais có nguồn gốc từ Jurassic và phát triển mạnh ở vùng Charolles, miền Trung nước Pháp. Bò Charolais có kết cấu cơ thể cân đối, cơ bắp nổi rõ và chúng nổi tiếng thế giới bởi lớn nhanh và hiệu quả sản xuất thịt cao. Chúng có hoặc không có sừng. Màu chủ yếu là trắng kem.
Tuy nhiên cũng có 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con màu vàng tối. Đặc điểm nổi trội của giống này là lớn nhanh, to con, cơ bắp nổi rõ vì vậy khối lượng thịt xẻ cao(đạt trên 65%). Bò có tính trầm, hiền lành và chịu kham khổ. Theo UCATRC của Pháp năm 2004 bò đực giống Charolais đạt khối lượng 800- 900kg ở 500 ngày tuổi.
Trưởng thành đạt 1.450kg, cao vai 147-156cm, dài thân chéo 204-220cm, vòng ngực 244-270cm. Toàn nước Pháp hiện có 3,5 triệu bò giống Charolais. Tinh bò Charolais được xuất đi hầu khắp các nước trên thế giới để phục vụ công tác lai giống tạo ra các giống bò mới chuyên thịt. Nhược điểm của bò Charolais là chất lượng thịt chưa cao như bò Angus.
Bò Charolais Bò Sahiwal Bò Sahiwal có nguồn gốc từ tỉnh Montgomery (nay gọi là Sahiwal) của Pakistan. Bò Sahiwal là giống kiêm dụng cho cả sữa lẫn thịt. Thuộc nhóm bò có kích cỡ trung bình. Cơ thể cân đối, da mềm.
Bò Sahiwal có u cao, yếm phát triển, yếm thõng. Năng suất sữa của bò cái Sahiwal từ 1. Tỷ lệ mỡ sữa 5-6%. Nuôi dưỡng tốt, bò cái tơ đẻ lứa đầu lúc 30 tháng tuổi.
Khoảng cách lứa đẻ 13-18 tháng. Khối lượng bê sơ sinh 20- 22kg. Bò đực trưởng thành nặng 470-520kg, cao vai 150cm. Bò cái trưởng thành nặng 320-370kg, cao vai 130cm.
Tỷ lệ thịt xẻ khoảng 51-55%. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bò Charolais Bò Brahman Bò Brahman là giống bò thịt nhiệt đới, được nuôi rộng rãi ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Giống Brahman Mỹ hiện nay được tạo thành từ những giống bò Guzerat, Nerole, Gyr và Krishna Velley vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Bò Brahman có màu lông thay đổi, nhưng trội hơn cả là màu trắng ghi đến trắng xám (Brahman trắng) và màu đỏ sáng (Brahman đỏ).
Ngoại hình chắc khỏe, hệ cơ bắp phát triển. Giống bò Brahman có u cao, yếm thõng, da mềm, thịt săn và tai to dài cụp xuống, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có khả năng sử dụng thức ăn thô tốt và chịu gặm cỏ. Bò cái trưởng thành đạt 450-500kg, bò đực trưởng thành đạt 800-900kg. Khối lượng bê sơ sinh 22-25kg.
Bò cái có năng suất sữa thấp 600-700kg/chu kì. Bê đực Brahman có khả năng tăng trọng tốt. Tỷ lệ thịt xẻ 52- 55%. Giống bò Brahman có nhược điểm là hiệu quả sinh sản chưa cao, bò cái tơ có tuổi phối giống lần đầu muộn (trên 24 tháng), khoảng cách lứa đẻ 15-17 tháng/lứa.
Bò có tính mắn đẻ, dễ đẻ, lành tính, nuôi con giỏi. Bò Brahman có thể lực tốt, thích nghi cao với điều kiện nhiệt đới, khô hạn. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bò Brahman trắng Bò Brahman đỏ Bò Droughtmaster Có nguồn gốc ở vùng Bắc Queensland (Úc) trên cơ sở lai tạo giữa bò đực có u (Bos indicus) Brahman Mỹ với giống bò cái không có u (Bos taurus) của Anh. Bò Droughtmaster có màu đỏ, có hoặc không có sừng.