Tổng quan luận án
Chăn nuôi bò thịt tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong nhiều năm qua chủ yếu dựa trên quá trình Zebu hóa đàn bò địa phương nhằm cải thiện tầm vóc và khối lượng. Nhóm bò lai Zebu có đặc tính thích nghi tốt với điều kiện sống kham khổ, chịu được khẩu phần nhiều xơ và đạm thấp. Để nâng cao hơn nữa năng suất thịt và đáp ứng nhu cầu thị trường, các địa phương đã đẩy mạnh ứng dụng gieo tinh nhân tạo giữa bò cái nền lai Zebu với tinh đông lạnh của các giống bò chuyên thịt cao sản ngoại nhập như Black Angus, Charolais và Wagyu. Tuy nhiên, sự gia tăng liên tục của giá ngũ cốc và thức ăn tinh tạo nên áp lực chi phí rất lớn đối với người chăn nuôi. Động vật nhai lại có khả năng chuyển hóa các nguồn thức ăn thô xơ thành năng lượng hữu dụng nhờ hệ vi sinh vật dạ cỏ, nhưng thức ăn chứa hàm lượng xơ trung tính (Neutral Detergent Fibre - NDF) cao với thành phần cellulose lớn thường làm chậm tốc độ tiêu hóa, kéo dài thời gian lưu giữ thức ăn trong dạ cỏ và làm suy giảm lượng vật chất khô tiêu thụ (DMI).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây về NDF trên gia súc nhai lại chủ yếu sử dụng thức ăn tinh hoặc khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) với tỷ lệ thức ăn bổ sung cao để điều chỉnh dải NDF, thiếu các công trình hệ thống đánh giá sự thay đổi mức NDF xuất phát từ cấu trúc thức ăn thô nhiệt đới sẵn có tại địa phương trên các tổ hợp bò lai chuyên thịt F1 (Black Angus, Charolais và Wagyu phối với bò cái lai Zebu).
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 4 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá hàm lượng NDF trong khẩu phần ăn liên quan đến năng suất bò thịt được nuôi trong điều kiện nông hộ tại tỉnh An Giang.
- Xác định cấu trúc và ảnh hưởng của nguồn, mức NDF trong khẩu phần lên sự tiêu hóa và sinh khí trong điều kiện in vitro.
- Xác định hàm lượng NDF thích hợp trong khẩu phần ở điều kiện in vivo đối với các giống bò lai Black Angus, lai Charolais và lai Wagyu.
- Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng NDF trong khẩu phần đến tăng khối lượng, hệ số chuyển hóa thức ăn và hiệu quả kinh tế của 3 giống bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu.
Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Cấu trúc và hàm lượng NDF từ thức ăn thô trong khẩu phần ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất và tăng khối lượng ở bò lai hướng thịt.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm: đàn bò đực lai Zebu nuôi lấy thịt tại nông hộ; 3 nhóm bò đực lai F1 gồm Black Angus x lai Zebu, Charolais x lai Zebu và Wagyu x lai Zebu; các loại thức ăn thô xanh, thô khô và thức ăn bổ sung tại địa phương. Phạm vi nghiên cứu về không gian được triển khai tại 3 huyện Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới (khảo sát nông hộ) và Trại chăn nuôi bò của Công ty TNHH MTV SD tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (thí nghiệm nuôi dưỡng), kết hợp phân tích hóa học tại Phòng thí nghiệm E205, Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ. Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 02/2018 đến tháng 08/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giống, thức ăn thô, hóa học chất xơ, sinh lý tiêu hóa dạ cỏ và các mức NDF trên động vật nhai lại:
- Cơ cấu giống bò thịt và bò lai: Cương (2016) phân loại 4 nhóm giống bò thịt dựa trên khối lượng trưởng thành. Báo cáo của Giao (2018) cho biết tỷ lệ đàn bò lai tại Việt Nam tăng từ 12,0% năm 1995 lên 63,2% vào năm 2017. Các nghiên cứu cơ cấu đàn tại địa phương ghi nhận ưu thế của nhóm bò lai Zebu nhưng tỷ lệ bò lai chuyên thịt còn thấp: Duy và ctv. (2020) tại Tây Nguyên; Quyến và ctv. (2020) tại Tây Ninh (lai Zebu chiếm 58,5%), TP. Hồ Chí Minh (lai Zebu chiếm 77,2%) và Trà Vinh (lai Zebu chiếm 40,8%). Khảo sát của Trường & Thu (2017, 2018) trên 3.169 con bò đực tại An Giang cho thấy bò lai Zebu chiếm 98,5% và bò lai hướng thịt chỉ chiếm 1,47%. Các đặc tính giống cao sản và con lai được dẫn giải qua công trình của Moreira et al. (2013), Dũng & Ngoan (2015) đối với Angus; Đoàn và ctv. (2011), Huệ (2010, 2017) đối với Charolais (tỷ lệ thịt xẻ đạt 55,2%); Motoyama et al. (2016), Gotoh et al. (2014) và Vũ (2019) đối với bò Wagyu/Kobe.
- Vai trò của thức ăn thô và phụ phẩm nông nghiệp: Các công bố của Ali et al. (2016), Laorodphan et al. (2016), Doyle et al. (2008), Dung et al. (2013), La và ctv. (2008), Trường (2008), Thâm (2018), Tài và ctv. (2020) nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn thức ăn thô xanh, rơm rạ và phụ phẩm cây trồng trong khẩu phần bò thịt nhiệt đới.
- Hóa học chất xơ và hệ thống phân tích Van Soest: Van Soest et al. (1991) và Mertens (2014) xác lập bản chất của NDF là đại diện cho vách tế bào thực vật (gồm hemicellulose, cellulose và lignin). Harper & McNeill (2015) và Chen (2014) phân định vai trò của NDF tiêu hóa tiềm năng (pdNDF) và NDF không tiêu hóa (iNDF). Khi iNDF vượt quá 15% tổng chất khô khẩu phần sẽ làm suy giảm nghiêm trọng lượng thu nhận thức ăn.
- Quá trình lên men carbohydrate, tạo axit béo bay hơi (VFA) và khí mêtan: McDonald et al. (2010) mô tả cơ chế chuyển hóa carbohydrate thành pyruvate và tạo thành acetate, propionate (qua nhánh succinate hoặc lactate), butyrate với hiệu suất năng lượng ATP tương ứng (acetate: 8 mol, butyrate: 22 mol, propionate: 13,5 mol ATP/mol). Quá trình sinh mêtan từ H+ và CO2 nhờ vi khuẩn sinh mêtan được phân tích qua các nghiên cứu của Kobayashi (2010), Kameshwar et al. (2019), Meale et al. (2012), Al-Masri (2015), Chai et al. (2014), Khánh & Thu (2019), Chí (2015), Thu và ctv. (2016), Như và ctv. (2016).
- Thực nghiệm về mức NDF trên gia súc nhai lại: Arelovich et al. (2008) phân tích 11 thí nghiệm trên bò thịt chỉ ra mối tương quan tuyến tính giữa NDF và DMI ($y = 0,034x + 1,517; R^2 = 0,954$), DMI ($y = 0,160x + 6,093; R^2 = 0,965$) và năng lượng thuần cho tăng trưởng NEg ($y = 1,189x + 61,52; R^2 = 0,859$). Các tác giả quốc tế khác nghiên cứu NDF gồm Natel et al. (2019) trên cừu (mức thích hợp 37%); Cannas et al. (2007) trên dê; Ahmad et al. (2014) trên trâu Nili Ravi (mức 33% tốt nhất); NRC (2001) khuyến cáo 27-33% NDF cho bò sữa; Tjardes et al. (2002), Rahman et al. (2009) trên bò thịt. Tại Việt Nam, Thùy và ctv. (2016) nghiên cứu mức NDF trên dê; Thu & Đông (2013) trên cừu; Mô (2009) khảo sát NDF từ 63% đến 69% trên bò lai Sind; Vân và ctv. (2015) nghiên cứu TMR với NDF 18-36% trên bò lai F1 Droughtmaster x Lai Sind; Dũng và ctv. (2019), Lâm và ctv. (2019), Thạch (2020) nghiên cứu NDF và chế phẩm vi sinh phân giải xơ.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các nghiên cứu trước can thiệp mức NDF bằng việc điều chỉnh tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần TMR, phụ thuộc vào nguồn ngũ cốc giá cao. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xác định mức NDF tối ưu (55%) dựa trên nguồn thức ăn thô địa phương, kiểm chứng đồng thời qua 4 bước: khảo sát thực tế nông hộ, mô phỏng in vitro, thử nghiệm trao đổi chất in vivo và kiểm chứng sinh trưởng trên 3 tổ hợp bò lai hướng thịt F1 tại ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung lý thuyết dinh dưỡng động vật nhai lại của Van Soest et al. (1991), lý thuyết chuyển hóa carbohydrate và năng lượng của McDonald et al. (2010), cùng mô hình phân đoạn NDF (pdNDF và iNDF) của Harper & McNeill (2015). Cơ sở tính toán dựa trên các mối quan hệ tương quan giữa hàm lượng NDF và giá trị năng lượng trao đổi (ME) của thức ăn do Mô & Thu (2008b) và Thu & Đông (2011) công bố.
Phương pháp nghiên cứu thực tế kết hợp cả định tính và định lượng qua 4 nội dung nghiên cứu (NC):
- Nội dung 1: Phương pháp điều tra cắt ngang và hồi cứu theo Kaps & Lamberson (2004) tại 52 hộ chăn nuôi thuộc 3 huyện (Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới) tỉnh An Giang. Theo dõi 6 nhóm tuổi (6, 12, 18, 24, 30 và 36 tháng). Cân trực tiếp lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa liên tục trong 7 ngày bằng cân đồng hồ lò xo Nhơn Hòa (NHS-5 và NHS-30) để tính lượng tiêu thụ thực tế. Ước tính khối lượng bò bằng thước dây đo vòng ngực ILRI-IAS-L1.
- Nội dung 2 (Thí nghiệm in vitro):
- Thí nghiệm 2A: Đánh giá các nguồn xơ trung tính từ thức ăn thô đến khả năng sinh khí tổng số, khí CH4 và CO2 ở các thời điểm đến 72 giờ bằng kỹ thuật ủ in vitro (phương pháp Menke & Steingass). Thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính đa biến giữa thể tích CH4 sinh ra với các phân đoạn dưỡng chất.
- Thí nghiệm 2B: Đánh giá ảnh hưởng của các mức NDF (35, 40, 45, 50, 55, 60 và 65% DM) trong cơ chất ủ đến tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ in vitro (OMD) và tiêu hóa NDF (NDFD) từ 0 đến 72 giờ.
- Nội dung 3 (Thí nghiệm in vivo): Bố trí trên 3 nhóm bò đực lai hướng thịt gồm Black Angus x lai Zebu (TN 3A), Charolais x lai Zebu (TN 3B) và Wagyu x lai Zebu (TN 3C). Thí nghiệm tiêu hóa biểu kiến và cân bằng nitơ được thực hiện trên chuồng trao đổi chất chuyên dụng, thu thập toàn bộ lượng phân và nước tiểu hàng ngày để xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất (DMD, OMD, CPD, NDFD, ADFD) và tích lũy nitơ. Khẩu phần khảo sát gồm 4 mức NDF tăng dần: 47%, 51%, 55% và 59%. Lấy mẫu dịch dạ cỏ bằng ống thông thực quản tại 2 thời điểm: trước khi cho ăn (0 giờ) và 3 giờ sau khi ăn để xác định pH, nồng độ N-NH3 và tổng axit béo bay hơi (VFA).
- Nội dung 4 (Thí nghiệm nuôi dưỡng sinh trưởng): Nuôi dưỡng cá thể 3 nhóm bò lai Black Angus, Charolais và Wagyu với khẩu phần cố định mức NDF thích hợp là 55%. Theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày, khối lượng bắt đầu, khối lượng kết thúc, tăng khối lượng tuyệt đối (DWG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và hạch toán kinh tế chênh lệch thu chi.
Nguồn tư liệu và phương pháp phân tích: Các mẫu thức ăn, phân, nước tiểu được phân tích thành phần hóa học tại Phòng thí nghiệm E205 theo quy trình chuẩn của AOAC (vật chất khô - DM, tro, đạm thô - CP, béo thô - EE) và phương pháp Van Soest (NDF, ADF). Số liệu được xử lý thống kê bằng phân tích phương sai (ANOVA) và phân tích hồi quy tuyến tính, phi tuyến tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương này luận giải tính cấp thiết của việc tìm kiếm giải pháp thức ăn nhằm hạ giá thành chăn nuôi bò thịt trong bối cảnh giá ngũ cốc tăng cao tại ĐBSCL. Tác giả xác định 4 mục tiêu nghiên cứu, 4 nội dung nghiên cứu tương ứng, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Chương 1 nêu rõ 4 điểm mới của luận án, tập trung vào việc xác định mức NDF trong khẩu phần thực tế nông hộ, vai trò của carbohydrate hòa tan đối với phát thải CH4 so với NDF, quy luật suy giảm tiêu hóa in vitro khi tăng NDF từ 35% đến 65%, và xác lập mức 55% NDF là ngưỡng tối ưu cho bò lai hướng thịt.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết toàn diện về phân loại giống bò thịt; thống kê tỷ lệ bò lai tại Việt Nam từ 1995 đến 2017 (tăng từ 12,0% lên 63,2%); cơ cấu giống tại An Giang (bò lai Brahman chiếm 69,5%, lai Ongole chiếm 8,93%, lai Sind chiếm 16,3%, bò lai hướng thịt chỉ đạt 1,47%). Tổng quan chi tiết về sinh lý tiêu hóa chất xơ, cấu trúc vách tế bào thực vật, con đường lên men carbohydrate thành pyruvate và VFA, cân bằng năng lượng ATP và con đường sinh khí mêtan trong dạ cỏ. Chương này tổng hợp dữ liệu dinh dưỡng của 48 loại thức ăn thô và 12 loại thức ăn bổ sung, đồng thời dẫn giải các mối tương quan nghịch giữa NDF và ME:
| Nhóm thức ăn |
Phương trình tương quan giữa NDF ($x, %$) và ME ($y, \text{MJ/kgDM}$) |
Hệ số xác định ($R^2$) |
| Thức ăn thô (48 loại) |
$y = -0,0975x + 14,794$ |
$R^2 = 0,5546$ |
| Thức ăn bổ sung (12 loại) |
$y = -0,075x + 14,97$ |
$R^2 = 0,5130$ |
| Tổng hợp thức ăn |
$y = -0,1044x + 15,328$ |
$R^2 = 0,6709$ |
Chương 2 cũng phân tích kết quả của các nghiên cứu NDF trên trâu (Ahmad et al., 2014 với mức 33% tốt nhất), trên cừu (Thu & Đông, 2013 với hàm phi tuyến $y = -0,119x^2 + 14,7x - 384; R^2 = 0,895$), và trên bò thịt (Mô, 2009; Arelovich et al., 2008; Vân và ctv., 2015).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết địa điểm, thời gian và thiết kế kỹ thuật cho 4 nội dung nghiên cứu. Quy định rõ quy trình điều tra 52 hộ nông dân nuôi bò đực lai Zebu từ 6 đến 36 tháng tuổi tại An Giang (NC 1); bố trí thí nghiệm in vitro sinh khí 72 giờ và xác định OMD của các mức NDF từ 35% đến 65% (NC 2); quy trình thử nghiệm tiêu hóa in vivo, thu mẫu phân, nước tiểu và dịch dạ cỏ (đo pH, N-NH3, VFA) trên chuồng trao đổi chất đối với 3 nhóm bò lai ở các mức NDF 47%, 51%, 55%, 59% (NC 3); và thiết kế nuôi dưỡng cá thể đánh giá tăng trọng, FCR và hiệu quả kinh tế ở mức 55% NDF (NC 4).
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua 5 tiểu mục chính:
- Tiểu mục 4.1 (Nội dung nghiên cứu 1): Khảo sát chăn nuôi nông hộ tại An Giang cho thấy khẩu phần ăn thực tế của bò đực lai Zebu giai đoạn 6-36 tháng tuổi có hàm lượng NDF dao động từ 49,7% đến 57,9% tính trên vật chất khô. Khẩu phần sử dụng chủ yếu là phụ phẩm rơm rạ và cỏ tự nhiên, nghèo đạm, dẫn đến lượng dưỡng chất tiêu thụ không đáp ứng đủ nhu cầu, gây hạn chế rõ rệt về tầm vóc và khối lượng tích lũy của bò nuôi thịt.
- Tiểu mục 4.2 (Nội dung nghiên cứu 2): Kết quả thí nghiệm in vitro 2A và 2B chỉ ra rằng cấu trúc NDF của thức ăn thô tác động trực tiếp đến khả năng phân giải của vi sinh vật. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến chứng minh carbohydrate hòa tan hoặc chiết chất không đạm (NFC/NFE) có mức độ ảnh hưởng đến tổng lượng khí và phát thải CH4 lớn hơn so với NDF, ADF, CP và EE. Trong thí nghiệm ủ các mức NDF từ 35% đến 65%, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và NDFD giảm dần có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$) khi tăng hàm lượng NDF cơ chất. Dải NDF từ 47% đến 59% cho thấy các chỉ số tiêu hóa phù hợp để chuyển tiếp sang thử nghiệm in vivo.
- Tiểu mục 4.3 (Nội dung nghiên cứu 3): Thử nghiệm in vivo trên cả 3 nhóm bò lai (Black Angus, Charolais và Wagyu x lai Zebu) ghi nhận khi nâng mức NDF khẩu phần từ 47% lên 59%, tỷ lệ tiêu hóa DM và OM giảm dần ($P < 0,05$). Tuy nhiên, giữa nghiệm thức NDF 47% và NDF 55% không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Các thông số môi trường dịch dạ cỏ tại thời điểm 0 giờ và 3 giờ sau khi ăn (pH, nồng độ N-NH3 và tổng VFA) duy trì ổn định, không có sự sai khác lớn giữa các nghiệm thức ($P > 0,05$), đảm bảo điều kiện sinh lý bình thường cho hệ vi sinh vật dạ cỏ. Tích lũy nitơ và tăng khối lượng có xu hướng giảm dần khi tăng NDF lên mức 59%, khẳng định nghiệm thức NDF 55% là điểm dừng tối ưu về mặt sinh lý tiêu hóa và chi phí.
- Tiểu mục 4.4 (Nội dung nghiên cứu 4): Thử nghiệm nuôi dưỡng ở mức 55% NDF khẩu phần cho thấy bò lai Charolais x lai Zebu có ưu thế hơn so với bò lai Black Angus và Wagyu về lượng thu nhận thức ăn, tăng khối lượng hàng ngày (DWG), cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và đem lại chênh lệch thu chi kinh tế cao nhất.
- Tiểu mục 4.5 (Nhận định kết quả luận án): Tổng hợp các luận cứ khoa học khẳng định tính khả thi của việc sử dụng mức 55% NDF trong khẩu phần bò thịt tại ĐBSCL.
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Chương cuối tóm tắt các kết luận cốt lõi: hàm lượng NDF trong khẩu phần nông hộ đang ở mức cao (49,7 - 57,9%) gây giới hạn sinh trưởng; mức 55% NDF trong khẩu phần đảm bảo cân bằng giữa khả năng tiêu hóa, ổn định môi trường dạ cỏ, tăng trưởng và hiệu quả kinh tế; đề xuất chuyển giao mức NDF 55% vào thực tế chăn nuôi bò lai hướng thịt tại ĐBSCL.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án công bố 4 đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:
- Đã xác định và đánh giá được hàm lượng xơ trung tính (NDF) thực tế trong khẩu phần của đàn bò đực lai Zebu nuôi thịt tại nông hộ tỉnh An Giang dao động từ 49,7% đến 57,9% theo các giai đoạn tuổi từ 6 đến 36 tháng, chỉ ra đây là nguyên nhân chính gây hạn chế khối lượng và tầm vóc sinh trưởng của bò thịt tại địa phương.
- Chứng minh thực nghiệm rằng sự thay đổi cấu trúc NDF của thức ăn thô có tác động trực tiếp đến tiêu hóa dưỡng chất ở động vật nhai lại. Đồng thời, nghiên cứu in vitro phát hiện sự phát thải khí mêtan (CH4) chịu ảnh hưởng của hàm lượng carbohydrate phi cấu trúc/chiết chất không đạm (NFC/NFE) nhiều hơn so với NDF, tiếp theo là ADF, CP và EE.
- Xác định quy luật biến thiên tiêu hóa in vitro: tăng hàm lượng NDF từ 35% lên 65% trong hỗn hợp ủ làm suy giảm dần tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (OMD) và tiêu hóa NDF ($P < 0,05$), qua đó xác lập dải NDF 47% đến 59% là khoảng biến thiên triển vọng cho động vật nhai lại.
- Xác lập mức 55% NDF trong khẩu phần là ngưỡng thích hợp cho các giống bò lai hướng thịt (Black Angus, Charolais và Wagyu phối với bò cái lai Zebu), đảm bảo tối ưu hóa tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất, giữ ổn định môi trường dạ cỏ (pH, N-NH3, VFA), duy trì cân bằng nitơ tích lũy, tăng trọng lượng cơ thể và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án: Khuyến nghị người chăn nuôi áp dụng mức 55% NDF trong phối hợp khẩu phần cho bò lai hướng thịt bằng cách kết hợp hợp lý giữa nguồn thức ăn thô xanh, rơm rạ sẵn có với thức ăn bổ sung; ưu tiên sử dụng tinh bò Charolais phối với bò cái nền lai Zebu để đạt tốc độ tăng trọng và hiệu quả kinh tế cao nhất tại ĐBSCL.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Địa bàn khảo sát nông hộ và thử nghiệm nuôi dưỡng chỉ tập trung tại tỉnh An Giang, chưa mở rộng ra các vùng sinh thái khác có tập quán chăn nuôi và nguồn phụ phẩm khác biệt.
- Đối tượng thử nghiệm in vivo giới hạn trên các cá thể bò đực lai F1 giai đoạn sinh trưởng, chưa thực hiện trên bò cái hoặc các giai đoạn nuôi dưỡng kéo dài qua nhiều chu kỳ vỗ béo khác nhau.
- Luận án chưa đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu sau giết mổ như tỷ lệ thịt tinh, phẩm chất thịt xẻ và tỷ lệ mỡ giắt (đặc biệt đối với giống bò Wagyu vốn có thế mạnh về vân mỡ) do hạn chế về thời gian và điều kiện cơ sở hạ tầng giết mổ công nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo nghiệm khẩu phần có mức NDF 55% trên các mô hình vỗ béo bò lai hướng thịt thương phẩm đến giai đoạn giết mổ để đánh giá toàn diện chất lượng thịt xẻ và tỷ lệ mỡ giắt.
- Mở rộng nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học phân giải xơ hoặc kỹ thuật ủ chua thức ăn thô nhằm nâng cao tỷ lệ tiêu hóa NDF (pdNDF) và giảm tỷ lệ NDF khó tiêu (iNDF) trong các nguồn phụ phẩm nông nghiệp địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y, Dinh dưỡng động vật: Cung cấp cơ sở lý thuyết chuẩn xác về hệ thống phân tích xơ Van Soest, quy trình bố trí thí nghiệm in vitro sinh khí đánh giá phát thải mêtan và kỹ thuật thu thập mẫu trên chuồng trao đổi chất in vivo.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Bộ số liệu phân tích thành phần dưỡng chất (DM, CP, NDF, ME) của 48 loại thức ăn thô và 12 loại thức ăn bổ sung tại ĐBSCL cùng các phương trình tương quan hồi quy giữa NDF và ME là nguồn dẫn liệu có độ tin cậy cao phục vụ giảng dạy và tính toán khẩu phần.
- Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách chăn nuôi: Cung cấp căn cứ khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng bò lai hướng thịt nhập ngoại tại ĐBSCL, giảm bớt sự phụ thuộc vào thức ăn tinh công nghiệp.
- Chủ trang trại và người chăn nuôi bò thịt: Hướng dẫn áp dụng công thức phối trộn thức ăn thô xơ đạt ngưỡng 55% NDF giúp tiết kiệm chi phí thức ăn, kiểm soát tiêu tốn thức ăn và tối ưu hóa lợi nhuận nuôi bò lai chuyên thịt (đặc biệt là con lai Charolais).
Câu hỏi thường gặp
1. Mối quan hệ tương quan giữa hàm lượng xơ trung tính (NDF) và năng lượng trao đổi (ME) của thức ăn thô được luận án xác định như thế nào?
Luận án đã phân tích 48 loại thức ăn thô phổ biến tại ĐBSCL và xác lập mối tương quan nghịch giữa NDF và ME theo phương trình hồi quy tuyến tính: $y = -0,0975x + 14,794$ với hệ số xác định $R^2 = 0,5546$. Khi hàm lượng NDF trong thức ăn thô tăng lên, giá trị ME giảm tương ứng từ mức cao nhất 13,4 MJ/kgDM (ở lá so đũa, NDF 29,2%) xuống mức thấp nhất 4,41 MJ/kgDM (ở cỏ vetiver, NDF 79,4%).
2. Thành phần dinh dưỡng nào có ảnh hưởng lớn nhất đến lượng khí mêtan (CH4) sinh ra trong điều kiện in vitro của luận án?
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến trong thí nghiệm in vitro 2A chứng minh rằng carbohydrate hòa tan hoặc chiết chất không đạm (NFC/NFE) có mức độ tác động đến lượng khí tổng số và sự sản sinh khí CH4 lớn hơn so với NDF, tiếp theo mới đến các thành phần ADF, CP và EE. Khả năng lên men nhanh của các loại carbohydrate hòa tan thúc đẩy quá trình sinh khí mạnh mẽ hơn so với thành phần xơ cấu trúc.
3. Tại sao luận án lại khuyến cáo mức 55% NDF trong khẩu phần bò lai hướng thịt thay vì các mức NDF khác?
Trong thí nghiệm in vivo, khi tăng mức NDF từ 47% lên 59%, tỷ lệ tiêu hóa DM và OM suy giảm ($P < 0,05$). Tuy nhiên, giữa hai nghiệm thức NDF 47% và NDF 55% không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Ở mức 55% NDF, các chỉ tiêu pH, N-NH3 và tổng VFA dịch dạ cỏ tại 0 giờ và 3 giờ sau ăn duy trì ở ngưỡng sinh lý tối ưu, tích lũy nitơ và tăng khối lượng đạt mức cao, đồng thời cho phép người nuôi tận dụng tối đa nguồn thức ăn thô giá rẻ để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với mức 47% (tốn nhiều thức ăn tinh đắt tiền) hoặc mức 59% (giảm tiêu hóa và giảm tăng trọng).
4. Trong ba nhóm bò lai chuyên thịt được khảo nghiệm ở mức NDF 55%, nhóm bò lai nào cho kết quả sản xuất tốt nhất?
Ở mức NDF 55% trong khẩu phần, bò lai Charolais (Charolais x lai Zebu) thể hiện xu hướng vượt trội hơn so với bò lai Black Angus và bò lai Wagyu về lượng thức ăn thu nhận hàng ngày, tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối (DWG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR thấp hơn) và mang lại hiệu quả kinh tế chênh lệch thu chi cao nhất.
5. Thực trạng hàm lượng NDF trong khẩu phần bò thịt nuôi tại nông hộ tỉnh An Giang qua điều tra là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát tại 52 hộ chăn nuôi ở 3 huyện thuộc tỉnh An Giang cho thấy hàm lượng NDF trong khẩu phần thực tế của bò đực lai Zebu từ 6 đến 36 tháng tuổi dao động từ 49,7% đến 57,9% tính trên vật chất khô. Khẩu phần nghèo đạm và phụ thuộc nhiều vào rơm rạ, cỏ tự nhiên đã gây hạn chế khả năng sinh trưởng tầm vóc và khối lượng của đàn bò thịt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Bình Trường đã giải quyết vấn đề sử dụng xơ trung tính (NDF) trong dinh dưỡng bò lai hướng thịt tại Đồng bằng sông Cửu Long. Thông qua 4 nội dung nghiên cứu từ điều tra nông hộ, mô phỏng in vitro đến thử nghiệm trao đổi chất in vivo và theo dõi tăng trọng, luận án đã xác định ngưỡng 55% NDF trong khẩu phần là mức tối ưu giúp duy trì ổn định môi trường dạ cỏ, tối đa hóa tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Trong các tổ hợp lai khảo nghiệm, nhóm bò lai Charolais x lai Zebu thể hiện khả năng thích ứng và năng suất tăng trọng tốt nhất với khẩu phần 55% NDF. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống dẫn liệu khoa học giá trị về bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn địa phương và giải pháp phối hợp khẩu phần giảm thiểu chi phí cho ngành chăn nuôi đại gia súc.