Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cây ớt 1.1 Nguồn gốc phân loại Ớt (Capsicum spp.) có nguồn gốc từ miền Trung và Nam của châu Mỹ. Ớt chứa khoảng 20 - 27 loài, 5 loài trong số đó được thuần hóa: Capsicum annuum L., Capsicum pubescens Keep va Capsicum baccatum L (Bosland va Votava, 2000; Costa va cs 2009). Phân loại thực vat: Giới: Plantae, Ngành: Spematophyta, Lớp: Dicotyledonae, Bộ: Solanales, Họ: Solanaceae, Chi: Capsicum L, Loài: khoảng 26 — 27 loai.2 Đặc điểm thực vật học 1.1 Rễ Ot có rễ trụ, nhưng phân nhánh mạnh và phát triển thành rễ chùm, phân bồ chính trong tầng đất cày (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001). Khi cây già, phần gốc thân chính hóa gỗ.
Bộ rễ ăn nông nên cây ớt không chịu được tng, có thể chịu được nóng nhưng chịu được hạn trung bình (Mai Văn Quyền và ctv, 2007).2 Dạng thần và dạng cành Ớt là cây bụi thân gỗ, thường mọc thẳng, có thể gặp các dạng thân bò, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5 — 1,5 m (Mai Thị Phương Anh, 2020). Theo IPGRI và ctv (1995), cây ớt thường có 3 dạng: thắng, chặt và bò lan. Ớt phân tán nhiều, chiều cao khác nhau phụ thuộc vào giống và điều kiện canh tác (Mai Văn Quyền và ctv, 2007). Thân cây ớt có nhiều lông hoặc không có lông (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001; Agyere, 2013).3 Lá Theo Nguyễn Hữu Danh (2000) lá ớt có hình ê-líp hoặc hình lưỡi mác, mép lá nhẫn, gân lá hình mạng lông chim.
Lá ớt mọc đơn trên thân chính, đôi khi mọc thành hình hoa thị, mỏng, kích thước trung bình 1,5-12 cm x 0,5-7,5 em (Mai Thị Phương Anh, 2020). Theo IPGRI và ctv (1995) mô tả phân loại ớt thành 3 dạng là dạng tam giác, trái xoan và mũi mác. Theo Abu và ctv (2013) lá là nguồn quang hợp rất cần thiết cho sự đậu trái và phát triển của trái, 61,8% biến động năng suất phụ thuộc và số lá.4 Hoa Hoa ớt có thé mọc đơn đến thành chùm 2 — 3 hoặc đến 7 hoa tại một nách lá (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001; Berke, 2000). Hoa ớt thường mọc hướng lên, trung gian hay rũ xuống (IPGRI và ctv, 1995).
Lá đài nhỏ, hẹp và nhọn (Phạm Hồng Cúc và ctv, 2001). Hoa ớt thuộc hoa lưỡng tính, thường có 5 cánh màu trắng, một số có mau sữa, xanh lam và tím (Mai Thi Phuong Anh, 2020). Hoa ớt có thé tự thụ phan hay thụ phan chéo nhờ côn trùng, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn đối với ớt cay. Theo Shaw va Khan (1928) thì cánh hoa ớt màu trang đốm xanh ở loài Capsicum ƒtutescens và màu tràng hoa là một trong những tinh trạng phù hợp dé phân biệt các loài Capsicum spp.
Chiều dài và vị trí tương đối của nhụy với bao phan khác nhau giữa các kiểu gen va là một yêu tô quan trọng dé xác định mức độ thụ phấn chéo trong tự nhiên của hoa, tỉ lệ thụ phấn ngoài cao đặc biệt khi có mặt của côn trùng có thể lên đến 70 - 90% (Agyare, 2013).5 Trái Các giống ớt khác nhau có kích thước trái, hình dạng, độ nhọn, màu sắc, độ cay, độ mềm của thịt khác nhau (Mai Thi Phương Anh, 2020). Theo IPGRI và ctv (1995) trái ớt có dạng hình cầu, hình chuông, hình thon, hình nón. Bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẫn (Phạm Hồng Cúc va ctv, 2001). Chiều dai và hình dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt dé xuất khẩu dưới dạng khô.
Theo Đường Hồng Dat (2003), trên cây ớt có nhiều lứa trái, lứa trái già và lứa trai non có thể có trên cây cùng một thời điểm.6 Hạt Hạt dạng thận, nằm xung quanh lõi quả. Hạt ớt nhan, dẹp, có màu vàng trừ hạt của loài Capsicum pubescens cô màu den, trọng lượng 1000 hạt khoảng 4 — 6 g, nếu bao quản tốt hạt có thé lưu trữ 2 năm (Mai Thị Phuong Anh, 2020). Trọng lượng hạt ớt phụ thuộc vào đặc tính giống, điều kiện trồng và các giống ớt có trái to thì thường có hạt lớn (Ozalp và Celik, 2013).3 Giá trị về dinh dưỡng của ớt Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng trong 100 g ớt chín đỏ Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng Cacbonhydrate 881g Na 9mg Cholesterol 0 mg P 43 mg Chất xơ 1,5 g Ca 14mg Vitamin A 952 IU Mn 0,187 mg Vitamin C 143,7 mg Mg 23 mg Vitamin E 0,69 mg Fe 1,03 mg Vitamin K 14 mg Nang luong 40 Kcal (Nguồn: Co sở dữ liệu dinh duéng quốc gia Hoa Ky (USDA), 2016) Ớt là một loại gia vị quan trọng trong nhiều công thức nấu ăn, ớt giàu chất xơ, protein, lipit, vitamin, capsaicinoid, carotenoid và các nguyên tô khoáng (Bosland và Votava, 2003). Ớt xanh tươi chứa nhiều vitamin C hơn trái cây họ cam quýt và ớt đỏ tươi chứa nhiều vitamin A hơn cà rốt (Osuna-Garcisa và ctv, 1998; Marin và ctv, 2004).
Vitamin C rat cao của ớt cũng có thé tăng đáng kề sự hấp thu chất sắt tự do từ các thành phần khác trong bữa ăn chang hạng như đậu, ngũ cốc (Nguyễn Công Khan và Hà Thị Anh Đào, 2007).4 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới Gt có giá trị kinh tế cao nên được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo số liệu của FAOSTAT (2020), giai đoạn 2015 — 2018 diện tích trồng ớt của thế giới 110.434 ha, sản lượng tăng 3. Các nước có sản lượng ớt lớn nhất trong năm 2018 là Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ. Indonesia và Tây Ban Nha.
Trong đó, Trung Quốc là quốc gia có sản lượng ớt tươi cao nhất (18.771 tan) với diện tích là 769.2 Tình hình sản xuất ớt ở Việt Nam Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang lại điều kiện thuận lợi dé ớt sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt là giai đoạn 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã không ngừng mở rộng diện tích trồng ớt, day mạnh chuyền đổi từ cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang trồng ớt. Đồng bằng sông Cửu Long có 6 tỉnh trồng ớt với diện tích lớn đó là Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Trà Vinh. Tổng diện trồng ớt của 6 tỉnh này khoảng 7.079 ha, sản lượng 97.
Quảng Bình trồng khoảng 125.000 ha vào năm 2016, Thái Bình trồng khoảng 1. Bên cạnh đó, nhiều công ty xuất khẩu lớn, sản xuất, chế biến, xuất khâu ớt cay dưới dạng ớt tươi (đông lạnh), muối mặn, tương ớt, sấy khô, ớt bột vào các thị trường lớn như EU, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan. Tuy nhiên các nước ở Châu Âu, Nhật Bản có yêu cầu nghiêm ngặt, tiêu chuẩn sạch theo từng quy trình trồng. Ot Việt Nam cần phải chú trọng quy trình trồng và chất lượng dé có thé xâm nhập sâu vảo các thị trường khó tính.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ớt của thế giới (năm 2010 — 2018) (FAOSTAT, 2020) Năm Diện tích (riệuha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2010 1,87 15,86 29,67 2011 1,90 15,91 30,24 2012 1,94 15,92 30,90 2013 1,93 16,21 31,26 2014 1,95 16,51 32,12 2015 1,89 17,65 33,28 2016 1,94 17,79 34,50 2017 1,96 18,33 35,98 2018 1,99 18,47 36,77 1.2 Tong quan về nắm Colletotrichum spp.
gây bệnh than thư trên ớt 1.1 Giới thiệu về nam Colletotrichum spp. Loại nam Colletotrichum spp. đầu tiên được nghiên cứu bởi Corda (1837), lúc đó được gọi là Colletotrichum spp. sau đó chính tác giả đổi tên thành Colletotrichum spp.
Nắm Colletotrichum spp. là tác nhân chính gây bệnh than thư trên ớt. gây bệnh than thư là một trong những mầm bệnh quan trọng trên các loại ký chủ bao gồm ngũ cốc, các loại đậu, rau trái cây và cây lâu năm. Dựa vao tầm quan trọng khoa học và kinh tế, gần đây người ta đã bầu chọn rằng Colletotrichum spp.
là nhóm nam gây bệnh thực vật quan trọng thứ tám trên thế giới (Dean va ctv, 2012). Các loài thuộc chi nay đã được báo cáo gây ra bệnh than thư ở hơn 121 chi thực vật thuộc 45 họ thực vật khác nhau (Farr va ctv, 2016). Nhóm nghiên cứu trường Đại học Kasetsart Kanphaeng Saen Campus, Nakhom Pathom, Thái Lan (2007) đã xác định được 5 loài trong chi Colletotrichum gay bệnh than thư trên ớt: CC acutatum, C. Theo Park va Kim xac dinh cac loai gay bénh than thu trên ớt ở Hàn Quốc là C.
gloeosporioides là phô bién hơn (Park và Kim, 1989). Ở các quốc gia khác nhau thì thành phan nắm Colletotrichum gây bệnh than thư cũng khác nhau (Trần Thị Mién, 2008). Hai loài gây thiệt hại kinh tế nhiều nhất là C. Nam có thé lay bệnh ở tat cả các bộ phận của cây như: lá, hoa, cành, qua và gây các bệnh như rụng lá, thối quả.
Bệnh xuất hiện ở cây trưởng thành, nam bệnh phát triển mạnh mẽ trong những khu vực ẩm ướt. Các loại nắm Colletotrichum spp. có thé gây bệnh khi quả non và phát hiện khi quả đã già hoặc quả chín, một số trường hợp không phát hiện quả bị bệnh khi thu hoạch mà phát hiện khi quả quản (Wharton va ctv, 2004).2 Đặc điểm hình thái Nắm Colletotrichum có sol nam nội sinh, mảnh, phân nhánh, không mau, có vách ngăn, sợi nam có nội bào và gian bao. Nhiều hat dầu được thấy trong mỗi sợi nam.
Khi sợi nắm già sậm màu trở nên bện xoắn lại thành dạng chất nền nhỏ dưới lớp ngoài cùng. Nam Colletotrichum sinh sản vô tinh bằng bào tử, bao tử đính phát triển trên cuống bao tử dang quả thé là cụm cuống bao tử. Cụm cuốn bao tử có dạng đĩa phẳng, mỗi cụm cuốn bào tử gồm chất nền, bề mặt sản sinh cuốn bao tử trong suốt. Cuống bào tử không có vách ngăn kéo dai đơn bao, dạng liém, cong, bao tử trong suốt.
Cùng với bao tử va cuốn bảo tử là các lông cứng trên mỗi cụm cuống bào tử, lông cứng dải, thon nhọn, không phân nhánh, đa bào, cấu trúc như tơ cứng. Một vài loại nắm của Colletotrichum có hoặc không có lông cứng có thể được kiểm soát bởi sự thay đổi của độ âm. Khi gặp điều kiện thuận lợi mỗi bào tử nảy mầm từ một đến nhiều ống mầm để hình thành sợi nam gây tốn thương trên bề mặt vật chủ. Sợi nắm già đôi khi hình thành vách day, mau nâu sam, hình cầu gọi là hậu bào tử, có thé ở tận cùng hoặc chen giữa sợi nam và tn tại trong thời gian dai và khi tách ra chúng cũng mọc mầm dé hình thành sợi nam mới (Lê Hữu Vang, 2021).
Như những loại nam gây bệnh khác, Colletotrichum tồn tại chủ yêu giai đoạn vô tính, còn giai đoạn hữu tính chủ yếu tồn tại trên mô đã chết (Sutton, 1995).