Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây ót 1.1 Nguồn gốc và phân loại cây ớt Gt có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Từ xa xưa, ớt đã là thành phần quan trong không thể thiếu trong bữa ăn và là nguyên liệu làm thuốc của các bộ tộc Nam Mỹ. Dù nguồn gốc tiến hóa ở phía nam rừng Amazon nhưng hạt ớt được tìm thấy tại thung lũng Tehuacan, Mexico với niên đại hơn 9000 năm. Những bang chứng khảo cô có niên đại khoảng 6000 năm phát hiện tại bảy địa điểm từ Bahamas tới Nam Peru cho thấy sự liên hệ với các giống ớt ở Châu Âu.
Các dấu tích cũng chứng minh ớt và ngô được trồng cùng thời điểm dé làm lương thực ở Trung va Nam Mỹ. Các nhà nhiên cứu cho rằng ớt được thuần hóa tại ít nhất hai địa điểm riêng biệt: một ở Nam Mỹ, đặc biệt là miền nam Brazil đến Bolivia, hai là ở Trung Mỹ và Mexico (Brown và ctv, 2013).2 Giá trị dinh dưỡng và công dụng của ớt Thành phần hóa học quan trọng nhất trong quả ớt là chất cay capsaicin được dùng làm gia vị và làm thuốc. Ngoài ra ớt còn là cây trồng rất giàu vitamin A, vitamin C, khoáng chat cũng như folate, một trong những vitamin B (Kantar va ctv, 2016). Capsaicin được sử dụng làm thuốc giảm dau trong thuốc mỡ bôi ngoài da và miếng dan ngoài da dé giảm đau, thường ở nồng độ từ 0,025% đến 0,1%.
Thuốc có thể được dùng dưới dạng kem để giảm tạm thời các cơn đau nhẹ của cơ và khớp liên quan đến viêm khớp, đau lưng, căng cơ và bong gân, thường là các hợp chất với các chất xoa bóp khác (Fattori và ctv, 2016).2 Tổng quan về nam Colletotrichum spp. gây bệnh than thư trên cây ót 1.1 Tổng quan về nam Colletotrichum spp. Theo báo cáo của Dean va ctv (2012), thi nam Colletotrichum spp. là một trong 3 những tác nhân gây bệnh thực vật quan trọng nhất trên toàn thế giới.
Dựa trên tam quan trọng của khoa học và kinh tế, gần đây đã được bình chọn là nhóm nam gay bénh thuc vật quan trong thứ tam trên thé giới và là nguyên nhân gây bệnh than thư - một bệnh hại kinh tế quan trọng với phô ký chủ rộng bao gồm ngũ cóc, đậu, rau, cây lâu năm và cây ăn quả (Agrios, 2005). Nam Colletotrichum sinh sản vô tính bằng bào tử, bào tử đính phát triển trên cuống bào tử dang quả thé là cụm cuống bào tử. Cụm cuống bao tử có dang đĩa phẳng, mỗi cụm cuống bao tử gồm lớp chất nền, bề mặt sản sinh cuống bao tử trong suốt. Cuống bào tử không có vách ngăn kéo dài đơn bào, dạng liềm, cong, bào tử trong suốt.
Cùng với bào tử và cuống bào tử là các lông cứng trên mỗi cụm cuống bào tử. Lông cứng dài, thuôn nhọn, không phân nhánh và đa bào, cau trúc như tơ cứng, có sol nam nội sinh, mảnh, phân nhánh, không mau, có vách ngăn, sợi nắm có nội bào và gian bao. Nhiều hạt dầu được hình thành trong mỗi sợi nam, khi sợi nam gia trở nên sm màu và xoắn lại thành đạng chất nền nhỏ dưới lớp ngoài cùng. Khi gặp điều kiện thuận lợi, mỗi bào tử nảy mam từ một đến nhiều ống mam dé hình thành sợi nam, gây tổn thương trên bề mặt vat chủ.
Sợi nắm gia đôi khi hình thành vách day, mau nau sam, hình cau gọi là hậu bao tử (Chlamydospores) tồn tại trong thời gian dài và khi tách ra cũng nảy mam để hình thành sợi nắm mới. Một vài loại nam của Colletotrichum có hoặc không có lông cứng có thể được kiểm soát bởi sự thay đôi của độ 4m. Giống như những loại nắm gây bệnh thực vật khác, Colletotrichum tồn tại chủ yếu hai giai đoạn trong đó giai đoạn vô tính là chủ yếu, còn giai đoạn hữu tính chủ yếu tồn tại trên mô đã chết (Sutton, 1995), chi Glomerella được xem như là giai đoạn hữu tính của Colletotrichum. Cơ chế tái tiếp hợp và sinh sản hữu tính của Colletotrichum vẫn chưa được mô tả chỉ tiết, theo Wheeler (1952), thì chỉ Glomerella ton tại cả hai dạng trong hệ sợi là ton tại đồng tan và di tan.2 Phan bo va ki chi Nam Colletotrichum gloeosporioides gay hai trén hau hét cac loai cay tréng 6 47 nước trên thé giới, đặc biệt phô biến ở các vùng nhiệt đới va 4 nhiệt đới.
Một số loài Colletotrichum hoặc có thé các biotypes có thé cùng gây hại trên một ký chủ. Cam quýt, bầu, bi, cà, ớt đều có thé bị gây hại nhưng đặc biệt là dâu tây và ớt là ký chủ dễ 4 bị nhiễm bệnh nhất (Peypoux và ctv, 1984). Gây ra bệnh than thư trên xoài có thé là Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides. Dâu tây có thé là Colletotrichum fraariae, Colletotrichum acutatum và Colletotrichum gloeosporioides gay hai trén ca 1a va qua.
Bệnh than thư gây ra bởi loài Colletotrichum xuất hiện các triệu chứng trên than, lá, hoa, quả và đã được xác định ở nhiều loài thực vật. Trong số ba loài Colletotrichum spp. acutatum là loài có độc lực cao nhất, tan công cả quả xanh và quả đỏ, theo sau đó là C. truncatum nhiễm nhiều quả chín và C.
gloeosporioides xảy ra trên cả quả non và quả xanh (Than va ctv, 2008).3 Triệu chứng gây bệnh Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh than thư có thé thay đổi theo bộ phận cây bi tấn công và điều kiện ngoại cảnh nhưng nhìn chung đều là các vết đốm hoại tử, trên vết đốm có các 6 bào tử (đĩa cành nam) màu gạch non hoặc đen (Hà Viết Cường, 2008). Theo Vũ Triệu Mân (2007), bệnh thán thư có thé hai thân, lá, quả và hạt, nhưng hại chủ yếu trên quả vào giai đoạn chín. Vết bệnh ban đầu là một đốm nhỏ, hơi lõm, ướt trên bề mặt vỏ quả, sau 2 - 3 ngày kích thước vết bệnh có thé lên tới 1 cm đường kính. Vết bệnh thường có hình thoi, lõm, phân ranh giới giữa mô bệnh là một đường màu đen chạy dọc theo vết bệnh.
Trên bề mặt vết bệnh có những chấm nhỏ là đĩa cành của nắm gây bệnh. Các vết bệnh có thé liên kết với nhau làm quả bị thối, vỏ khô có màu trăng vàng bân. Nam có thé gây hại trên một số chồi non, gây hiện tượng thối ngọn ớt. Chéi bị hại có màu nâu đen, bệnh có thê phát triển nặng làm cây bị chết dần hoặc cây bệnh có quả ở từng phần nhưng quả ít, chất lượng kém.
Than và ctv (2008) miêu tả triệu chứng điển hình trên quả là các tốn thương hình tròn, lõm, với vòng tròn đồng tâm trên bề mặt quả ớt và xuất hiện tan nấm hồng với nhiều bao tử vô tinh. Dưới áp lực bệnh nặng, vét bệnh liên kết lại gây thối quả.4 Đặc điểm sinh thái và đặc tính sinh học Đặc điểm sinh thái: Theo CerKaukas (2004), cho thấy rằng một số chủng Colletotrichum spp. ton tại trong tu nhiên: cây ki chu phụ, cây hoang dai, tan dư thực vật, mô trái bị bệnh. Nam hình thành cấu trúc dang hạch dé lưu ton, khi gặp điều kiện bắt lợi.
Bệnh sẽ bộc phát trở lại nếu tiếp tục canh tác các cây trồng kí chủ của nắm như xoài, ớt, cà chua. Các chu kỳ tiếp theo của bệnh sẽ tiếp nối trong suốt mùa vụ gieo trồng nhờ sự hình thành bào tử. Đặc tính sinh học: Chu kỳ Colletotrichum spp. thường được bao gồm giai đoạn hữu tính và vô tính.
Nhìn chung, giai đoạn hữu tính dẫn đến sự đa dạng di truyền của quan thé nam, còn giai đoạn vô tính có vai trò trong sự phát tán của nam. Sự kết hợp theo kiểu hữu tính trong các loài Colletotrichum spp. thường hiếm gặp trong tự nhiên. Chỉ có 11 trong số 20 loài Colletotrichum spp.
có giai đoạn hữu tính glomerella (Wharton và Diéguez-Uribeondo, 2004). Hau hết loài Colletotrichum spp. thuộc nhóm bán ký sinh bắt buộc (hemibiotrophy) do có loại gene giúp chuyển đổi từ dạng sống ky sinh bắt buộc (biotrophy) sang dạng sống hoại sinh (necrotrophy). Trong quá trình phát triển, chúng tiết ra enzyme và độc tô dé phân hủy vách tế bao và nguyên sinh chất của tế bào ký chủ (Phạm Văn Kim, 2000).
Một số loài Colletotrichum spp. sau khi xâm nhiễm vào mô ký chủ thường trải qua giai đoạn ủ bệnh kéo dài. Đối với loài Colletotrichum capsici, nam xâm nhiễm vào bên trong mô và dần dần làm chết các mô dày (Mendgen và Hahn, 2002).5 Đặc điểm phát sinh và phát triển của bệnh Khi âm độ tăng cao tạo điều kiện thích hợp cho sự mọc mam của bào tử và sự xâm nhiễm bệnh. Nhân tố chính giúp phát tán bào tử là nước.
Bào tử nấm Colletotrichum spp. mọc mam rat nhanh trong điều kiện có nước dé hình thành ống mam và đĩa áp (Cerckauskas, 2004). Từ nghiên cứu của Phạm Văn Kim (2000), cho thấy rằng bào tử nam Colletotrichum spp. nay mam trong nước sau 4 giờ và tiến hành xâm nhiễm vào cây.
Soi nam tiến hành xâm nhiễm bang cách tan công len lõi giữa các vách tế bao ký chủ 6 sau khi nảy mầm, sau đó tiết enzym dé phân hủy vách và màng nguyên sinh chất của tế bào đề hấp thu dưỡng chất cần thiết. Trong điều kiện mưa thường xuyên và nhiệt độ khoảng 23°C là điều kiện thuận lợi dé cho nam lây lan và phát triển. Nam có thé xâm nhiễm vào lá trực tiếp và qua những khe hở tự nhiên mà không cần tạo vết thương. Nam xâm nhiễm đòi hỏi âm độ 100% và nhiệt độ 20 — 30°C trong 24 giờ.
Triệu chứng bệnh có thé xuất hiện trong vòng 6 ngày sau khi tan công vào mô cây và thành lập đĩa dai trong điều kiện âm ướt. Ngoài ra theo Vũ Triệu Man (2007), nhiệt độ thích hợp cho nắm gây bệnh là 28 — 30°C, bệnh phát triển mạnh ở nhiệt độ cao. Bao tử phân sinh có sức sống cao, trong điều kiện khô hạn mặc dù bị vùi trong đất vẫn có khả năng nảy mam ở vu sau. Bệnh phát triển lây lan mạnh và gây thiệt hại nghiêm trọng vào những tháng mưa nhiều.
Bệnh thường phát triển khi thời tiết có mưa nhiều và ẩm độ cao. Bên cạnh đó bệnh cũng xảy ra nhiều trong mùa mưa vì bào tử sẽ được nước mưa cuốn đi và phát tán qua những cây khác, kết quả là làm nhiễm bệnh nhiều hơn theo Roberts và Dean (2009). Trái ở vị trí gần mặt dat thi dé bị xâm nhiễm hơn do nước mưa bắn bào tử từ đất lên hay do tiếp xúc trực tiếp với mặt đất (Cerckauskas, 2004). Nhiệt độ khoảng 28°C, ầm độ 95,7% bệnh sẽ phát triển rất nhanh trên quả (Sharma và ctv, 2006).
Ngoài ra, hạt từ những trái bị nhiễm bệnh cũng là nguồn phát sinh mầm bệnh (Phạm Văn Biên va ctv, 2003).