Tổng quan luận án
Viêm tai giữa mạn tính là bệnh lý viêm nhiễm kéo dài trên 3 tháng ở tai giữa. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 1% đến 4% tùy từng khu vực; tại Việt Nam, tỷ lệ này ghi nhận ở mức 3% đến 5% và vùng núi phía Bắc dao động từ 2% đến 5%. Trong nhóm bệnh lý này, viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm là thuật ngữ chỉ các trường hợp có hiện tượng ăn mòn xương và tổn thương cấu trúc tổ chức xung quanh, có nguy cơ gây các biến chứng nguy hiểm, không tự khỏi và không đáp ứng với điều trị nội khoa, đòi hỏi chỉ định phẫu thuật gần như tuyệt đối. Hai dạng bệnh tích chủ yếu được đề cập là viêm tai cholesteatoma và túi co kéo độ IV (xẹp nhĩ khu trú không kiểm soát được, được coi là tổn thương tiền cholesteatoma).
Sự phát triển của kinh tế - xã hội, hệ thống y tế và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh (đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính xương thái dương và nội soi tai) đã làm thay đổi mô hình bệnh học: bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn sớm hơn khi bệnh tích còn khu trú ở thượng nhĩ, sào đạo, sào bào trên nền xương chũm đặc ngà hoặc nghèo thông bào. Đối với các tổn thương khu trú này, các phương pháp phẫu thuật tiệt căn xương chũm kinh điển đi qua đường sau tai hoặc trước tai thường khoan bỏ nhiều vỏ xương chũm lành, tạo ra hốc mổ quá lớn so với phạm vi bệnh tích, dẫn đến các bất tiện như chảy dịch kéo dài, viêm hốc mổ và mất thẩm mỹ. Trong khi đó, phẫu thuật xương chũm kỹ thuật kín (bảo tồn thành sau ống tai) gặp nhiều khó khăn trong thao tác khi xương chũm đặc ngà, tiềm ẩn nguy cơ tái phát cholesteatoma cao (10% đến 43%) và bắt buộc phải phẫu thuật kiểm tra thì hai. Phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai là giải pháp kỹ thuật can thiệp trực tiếp vào tổn thương nhằm tối ưu hóa kích thước hốc mổ nhưng cần được hoàn thiện về cơ sở chỉ định và đánh giá hiệu quả lâm sàng.
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên với tiêu đề "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm" (chuyên ngành Tai Mũi Họng, mã số 62720155, bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tấn Phong) được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm.
- Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm 54 bệnh nhân với 57 tai được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma hoặc túi co kéo độ IV, được thực hiện phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 9 năm 2013, với quy trình theo dõi đánh giá tại mốc 3 tháng và trên 1 năm sau mổ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử phẫu thuật điều trị bệnh lý tai và xương chũm đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển:
- Năm 1736, Jean Louis Petit thực hiện mở một lỗ ở mặt ngoài xương chũm.
- Năm 1873, Schwartze chuẩn hóa kỹ thuật mở sào bào qua mặt ngoài xương chũm.
- Năm 1890, Zaufal công bố phẫu thuật tiệt căn xương chũm đầu tiên; đến năm 1910, Bondy cải biên kỹ thuật đối với cholesteatoma thượng nhĩ ngoài nhằm bảo tồn chuỗi xương con và màng căng.
- Năm 1950, sự ra đời của kính hiển vi phẫu thuật thúc đẩy phẫu thuật chỉnh hình tai giữa.
- Cuối thập niên 1950, Brunar, Jansen và Sheehy đề xuất phẫu thuật xương chũm giữ nguyên thành ống tai (kỹ thuật kín) nhằm phục hồi chức năng nghe. Tuy nhiên, kỹ thuật này bộc lộ nhược điểm tái phát cholesteatoma từ 10% đến 43%, đòi hỏi mổ thì hai sau 1 năm.
- Tại Việt Nam, phẫu thuật tiệt căn xương chũm từng là phương pháp chủ yếu; tác giả Lương Sỹ Cần đã nghiên cứu các giải pháp khắc phục nhược điểm hốc mổ lớn.
- Từ những năm 1980, việc ứng dụng chụp cắt lớp vi tính đã giúp xác định rõ giới hạn bệnh tích. Tos (1982) và Morimitsu (1989) bắt đầu thực hiện mở thượng nhĩ đường xuyên ống tai. Đến năm 2008, Holt J. công bố kỹ thuật mở sào bào đường xuyên ống tai dưới kính hiển vi cho bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có bệnh tích ở thượng nhĩ – sào đạo – sào bào.
- Kỹ thuật nội soi được đưa vào phẫu thuật tai từ năm 1990 bởi Takahashi và Thomassin J. như công cụ hỗ trợ kính hiển vi, sau đó trở thành phương tiện quan sát chính trong vá nhĩ qua các công trình của El Guindy (1992) và Thomassin (1993).
- Năm 2009, Nguyễn Tấn Phong và năm 2010, Tarabachi M. đã công bố độc lập các công trình ứng dụng nội soi mở thượng nhĩ, sào đạo, sào bào đường xuyên ống tai; tiếp đó mở rộng đường mổ để hạ thấp tường dây thần kinh VII tạo hốc tiệt căn hoàn chỉnh. Tại Việt Nam, kỹ thuật nội soi tai cũng được áp dụng bởi các tác giả như Cao Minh Thành, Hồ Lê Hoài Nhân.
Về mặt dịch tễ học biến chứng, nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương (1996) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương ghi nhận giai đoạn 1990–1996 có 740 trường hợp viêm tai cholesteatoma với 228 ca biến chứng nội sọ; trong 71 ca nghiên cứu có 42% phá hủy xương chũm thành hốc lớn, 10% khu trú ở thượng nhĩ, 8,5% ở thượng nhĩ – sào đạo và 39,5% ở thượng nhĩ – sào đạo – sào bào. Đến giai đoạn 2011–2013, nghiên cứu của Trịnh Đắc Chung ghi nhận số ca biến chứng nội sọ giảm xuống còn 34 trường hợp trong 3 năm.
Về cơ sở giải phẫu, các nghiên cứu của Legent F. (1975) cùng các tác giả trong nước như Ngô Mạnh Sơn và Trần Tố Dung chỉ ra rằng chiều dày xương từ mặt ngoài xương chũm đến thành ngoài sào bào trung bình là 12,41 ± 1,6 mm, trong khi vách xương thành sau ống tai ngoài ngăn cách sào bào chỉ dày từ 2 đến 4 mm. Đồng thời, nghiên cứu của Trần Tố Dung trên nhóm xương chũm đặc ngà ghi nhận trên 80% trường hợp có đáy sào bào cao hơn sàn ống tai ngoài (trong đó 62,5% ngang mức điểm giữa thành sau ống tai).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là: Xác lập cơ sở giải phẫu, tiêu chuẩn chỉ định cận lâm sàng (đặc biệt là cắt lớp vi tính) và đánh giá toàn diện hiệu quả lâm sàng, chức năng thính giác cũng như mức độ an toàn của phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai trên bệnh nhân có bệnh tích khu trú và xương chũm đặc ngà.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại sử dụng
- Cơ chế bệnh sinh cholesteatoma: Phân loại theo nguồn gốc gồm bẩm sinh và mắc phải (nguyên phát và thứ phát). Ba cơ chế bệnh sinh chính gồm: (1) Túi co kéo màng nhĩ (nguyên phát, phổ biến nhất); (2) Sự di cư của biểu mô vảy qua mép lỗ thủng (thứ phát); (3) Sự chuyển dạng biểu mô niêm mạc hòm nhĩ thành biểu mô vảy sừng hóa. Cấu tạo khối cholesteatoma gồm phần lòng chứa vụn sừng vô bào và phần vỏ gồm lớp trong (tế bào biểu mô vảy sừng hóa) cùng lớp ngoài (mô liên kết dưới biểu mô sản sinh enzyme tiêu hủy protein gây ăn mòn xương).
- Phân loại cấu trúc xương chũm trên cắt lớp vi tính (theo Görür):
- Loại 1 (thông bào bình thường): Thông bào lan đến mỏm chũm, vùng thái dương – mỏm tiếp, quanh tĩnh mạch bên và quanh sào bào.
- Loại 2 (kém thông bào): Thông bào chỉ khu trú ở sào bào và vùng quanh sào bào.
- Loại 3 (xơ hóa, đặc ngà): Xương chũm đặc, không có thông bào hoặc chỉ có sào bào nhỏ.
- Phân loại chỉnh hình tai giữa (theo Tos M.): Gồm 5 type (áp dụng tạo hình màng nhĩ che khoang trung – hạ nhĩ trên nền hốc mổ tiệt căn):
- Type I: Tạo hình màng nhĩ đơn thuần.
- Type II: Tạo hình màng nhĩ và tái tạo chuỗi xương con bằng trụ dẫn từ xương bàn đạp đến cán xương búa.
- Type III: Tạo hình màng nhĩ và tái tạo chuỗi xương con bằng trụ dẫn từ xương bàn đạp (hoặc đế đạp) đến màng nhĩ.
- Type IV: Tạo hình màng nhĩ ở khoang hạ nhĩ (che cửa sổ tròn và vòi nhĩ).
- Type V (Va, Vb): Xử lý khi đế xương bàn đạp cố định.
- Tạo hình xương con: Phân loại thành bán phần (PORP - Partial Ossicular Replacement Prosthesis) và toàn phần (TORP - Total Ossicular Replacement Prosthesis); theo hướng cơ học gồm kiểu trục ngang và kiểu trục dọc.
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca có can thiệp lâm sàng, không có nhóm chứng.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh nhân được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma hoặc túi co kéo độ IV.
- Khám nội soi tai có ít nhất một trong ba tổn thương: màng căng (thủng sát xương, mủ bã đậu óng ánh thối khẳn hoặc túi co kéo không kiểm soát), màng chùng (lỗ thủng hoặc túi co kéo không kiểm soát), hoặc mòn tường thượng nhĩ.
- Thính lực đồ đơn âm: Đánh giá sức nghe đường khí (PTA), khoảng trống khí - xương (ABG), dự trữ cốt đạo.
- Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương: Có hình ảnh ăn mòn xương (xương con, tường thượng nhĩ, trần tai giữa, ống bán khuyên ngoài, ống dây thần kinh VII); cấu trúc xương chũm đặc ngà hoặc nghèo thông bào; sào bào nhỏ.
- Đánh giá trong mổ: Bệnh tích khu trú, xương chũm đặc, sào bào nhỏ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân đang trong đợt hồi viêm hoặc có biến chứng nặng (viêm màng não, áp xe não, viêm tĩnh mạch bên, viêm mê nhĩ); có dị dạng tai ngoài hoặc tai giữa; không tuân thủ theo dõi đủ thời gian tối thiểu 3 tháng sau mổ.
- Quy trình thu thập và đánh giá:
- Trước phẫu thuật: Khám lâm sàng nội soi, đo thính lực đơn âm, chụp cắt lớp vi tính xương thái dương độ phân giải cao.
- Trong phẫu thuật: Sử dụng optic soi các góc (0°, 30°, 70°), đường rạch trong ống tai hoặc trước tai, khoan mở thành sau trên ống tai ngoài từ trước ra sau (thượng nhĩ -> sào đạo -> sào bào), hạ tường dây VII, làm sạch bệnh tích, chỉnh hình tai giữa và tạo hình xương con (nếu đủ điều kiện).
- Hậu phẫu: Đánh giá tại thời điểm 3 tháng về triệu chứng cơ năng, thời gian biểu mô hóa, tình trạng hốc mổ; đánh giá sau 1 năm trở lên về sự ổn định hốc mổ, đo lại thính lực, chụp cộng hưởng từ khuếch tán (MRI diffusion) khi cần kiểm tra tái phát cholesteatoma.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 tổng hợp cơ sở lý luận về bệnh sinh, cấu trúc giải phẫu và các phương pháp ngoại khoa điều trị viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm. Tác giả phân tích cấu trúc 3 tầng của hòm nhĩ (thượng nhĩ, trung nhĩ, hạ nhĩ) và hệ thống các ngách thượng nhĩ (khoang Kretschmann, túi Prussak, thượng nhĩ trong, thượng nhĩ trước, thượng nhĩ sau). Sự phức tạp của các nếp niêm mạc giải thích cơ chế hình thành túi co kéo khi thông khí qua eo thượng nhĩ bị tắc nghẽn.
Chương này cũng phân tích chi tiết liên quan giải phẫu giữa sào đạo, sào bào, tường dây thần kinh VII, ống bán khuyên ngoài, cống Fallope, trần tai giữa (ngăn cách thùy thái dương) và rãnh tĩnh mạch bên. Tác giả đối chiếu ưu nhược điểm của các đường mổ xương chũm (đường sau tai, đường trước tai, đường xuyên ống tai) và các kỹ thuật phẫu thuật (tiệt căn kinh điển, tiệt căn bảo tồn, phẫu thuật kín). Vai trò của nội soi phẫu thuật được làm rõ với ưu thế cung cấp trường quan sát rộng, quan sát linh hoạt qua các góc hẹp của ống tai ngoài mà kính hiển vi bị giới hạn.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu trên 54 bệnh nhân (57 tai) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2013. Tác giả mô tả chi tiết bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi chuyên dụng (optic 0°, 30°, 70° đường kính 2,7 mm và 4 mm, hệ thống khoan vi phẫu, ống hút, pince vi phẫu). Quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai được chuẩn hóa qua các bước:
- Gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ, rạch da thành sau trên ống tai ngoài (hoặc kết hợp đường rạch trong - trước tai nếu cửa tai hẹp).
- Nâng vạt da ống tai - màng nhĩ bộc lộ tường thượng nhĩ.
- Khoan mở tường thượng nhĩ, bộc lộ thượng nhĩ, lấy bỏ đầu xương búa và thân xương đe bị bệnh tích bám dính (nếu cần).
- Khoan mở thành sau trên ống tai theo hướng từ trước ra sau men theo cành ngang xương đe để vào sào đạo và sào bào.
- Khoan hạ thấp tường dây thần kinh VII ngang mức đáy sào bào và sàn ống tai.
- Làm sạch triệt để màng bao cholesteatoma, kiểm tra các ngách hòm nhĩ và lỗ vòi Eustache.
- Chỉnh hình tai giữa: Tái tạo màng nhĩ bằng cân cơ thái dương hoặc màng sụn nắp tai; tạo hình chuỗi xương con (PORP/TORP) bằng trụ dẫn sinh học hoặc xương tự thân; bít lỗ vòi ở nhóm tiệt căn không chỉnh hình.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thu thập được từ 57 tai phẫu thuật, chia làm hai phần: đặc điểm trước phẫu thuật và kết quả can thiệp phẫu thuật.
| Nhóm chỉ số |
Đặc điểm / Thông số ghi nhận trong nghiên cứu |
| Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu |
54 bệnh nhân (57 tai); phân bố gồm tai phải, tai trái và phẫu thuật cả 2 tai. |
| Triệu chứng lâm sàng cơ năng |
Chảy mủ tai đặc trưng (mủ bã đậu trắng óng ánh, mùi thối khẳn); nghe kém; ù tai (tiếng trầm hoặc tiếng cao); chóng mặt; đau tai âm ỉ lan thái dương. |
| Khám nội soi trước mổ |
Tổn thương màng căng (thủng sát xương, polyp, vảy sừng); tổn thương màng chùng; mòn xương tường thượng nhĩ và thành sau ống tai ngoài. |
| Thính lực trước mổ |
Nghe kém dẫn truyền hoặc hỗn hợp; đánh giá giá trị trung bình ngưỡng nghe đường khí (PTA) và khoảng cách khí - xương (ABG). |
| Hình ảnh cắt lớp vi tính |
Cấu trúc xương chũm đặc ngà hoặc nghèo thông bào; kích thước sào bào nhỏ; vị trí đáy sào bào cao hơn hoặc ngang mức sàn ống tai; phát hiện màng não sa thấp, tĩnh mạch bên lấn ra trước, ăn mòn chuỗi xương con, hở ống bán khuyên ngoài và ống dây thần kinh VII. |
| Xử trí trong phẫu thuật |
Áp dụng đường rạch trong ống tai hoặc kết hợp trước tai; hạ thấp tường dây VII; đánh giá tình trạng lỗ vòi nhĩ; chỉnh hình tai giữa type I, II, III (sử dụng vật liệu cân cơ, màng sụn, trụ gốm sinh học); bít lỗ vòi ở nhóm tiệt căn không chỉnh hình. |
| Theo dõi hậu phẫu & thính lực |
Ghi nhận thời gian rỉ dịch viêm; thời gian da phủ kín hốc mổ; tỷ lệ ổn định hốc mổ sau 1 năm; so sánh cải thiện PTA và thu hẹp ABG ở nhóm CHTG; kiểm tra tái phát bằng chụp cộng hưởng từ khuếch tán. |
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích và đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Tính phù hợp của kỹ thuật: Bàn luận về cơ sở giải phẫu của đường vào xuyên ống tai. Chiều dày vách xương cần khoan chỉ từ 2 đến 4 mm thay vì 12,41 mm khi mở từ vỏ chũm ngoài, giúp rút ngắn đường tiếp cận, giảm sang chấn mô mềm và bảo tồn nguyên vẹn vỏ xương chũm lành.
- Đối chiếu chẩn đoán hình ảnh và thực tế phẫu thuật: Đánh giá độ chính xác của phim cắt lớp vi tính trong việc dự báo tổn thương chuỗi xương con, vị trí đáy sào bào, tình trạng hở màng não và tĩnh mạch bên nhô ra trước. Phim cắt lớp vi tính đóng vai trò như bản đồ định hướng đường khoan.
- Kỹ thuật và an toàn phẫu thuật: Phân tích kỹ thuật cầm máu, thao tác một tay dưới nội soi, kỹ thuật hạ tường dây VII mà không gây tổn thương đoạn 3 cống Fallope, bảo vệ ống bán khuyên ngoài khi bóc tách màng cholesteatoma.
- Hiệu quả phục hồi chức năng và kiểm soát bệnh: Đánh giá sự ổn định của hốc mổ nhỏ, hạn chế tình trạng ứ đọng vảy biểu bì, giảm biến chứng chảy tai sau mổ; phân tích mức độ thu hẹp khoảng cách khí - xương (ABG) và cải thiện sức nghe trung bình (PTA) ở các nhóm bệnh nhân có chỉnh hình tai giữa.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
- Xác lập và chuẩn hóa chỉ định phẫu thuật: Luận án xác định rõ chỉ định thích hợp của phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai cho nhóm bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma hoặc túi co kéo độ IV với bệnh tích khu trú ở thượng nhĩ – sào đạo – sào bào, trên nền xương chũm đặc ngà hoặc kém thông bào và sào bào nhỏ.
- Hoàn thiện kỹ thuật tiếp cận ít xâm lấn: Chứng minh tính khả thi của đường khoan mở trực tiếp từ tường thượng nhĩ và thành sau trên ống tai ngoài ra phía sau, tận dụng đường vào ngắn nhất để bộc lộ toàn bộ sào bào và hạ thấp tường dây VII mà không cần khoan bỏ vỏ xương chũm ngoài.
- Tối ưu hóa hốc mổ tiệt căn: Kỹ thuật tạo ra hốc mổ có kích thước thu nhỏ tự nhiên, tương thích với tỷ lệ sinh lý của ống tai ngoài, giúp rút ngắn thời gian biểu mô hóa phủ kín hốc mổ, hạn chế tối đa các nhược điểm của phẫu thuật kinh điển (như chảy tai kéo dài, tích tụ chất bã đậu, hốc mổ viêm nhiễm, cửa tai biến dạng).
- Kết hợp bảo tồn và phục hồi chức năng nghe: Khẳng định khả năng thực hiện an toàn việc chỉnh hình tai giữa (tái tạo màng nhĩ che khoang trung – hạ nhĩ và tái tạo chuỗi xương con bằng trụ dẫn) đồng thì trên nền hốc mổ tiệt căn nội soi.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất áp dụng thường quy chụp cắt lớp vi tính xương thái dương lát cắt mỏng trước phẫu thuật để đánh giá cấu trúc xương chũm, kích thước sào bào, vị trí trần màng não và tĩnh mạch bên nhằm lựa chọn đúng đường mổ.
- Ứng dụng nội soi như một phương tiện phẫu thuật độc lập trong điều trị viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm thể khu trú tại các cơ sở chuyên khoa Tai Mũi Họng có trang bị phù hợp.
- Sử dụng chụp cộng hưởng từ với chuỗi xung khuếch tán trong quy trình theo dõi định kỳ sau phẫu thuật để phát hiện sớm tái phát cholesteatoma mà không cần mổ thăm dò thì hai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả hàng loạt ca tiến cứu không có nhóm chứng đối đầu ngẫu nhiên với kỹ thuật mổ kinh điển; phạm vi áp dụng kỹ thuật bị giới hạn nghiêm ngặt ở nhóm bệnh nhân có xương chũm đặc ngà, sào bào nhỏ và bệnh tích còn khu trú (không áp dụng được cho thể xương chũm thông bào rộng hoặc trường hợp đang có biến chứng nội sọ cấp tính); kỹ thuật mổ nội soi một tay đòi hỏi phẫu thuật viên phải trải qua quá trình đào tạo kỹ năng chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn, kéo dài thời gian theo dõi dọc sau mổ (trên 3 đến 5 năm) để đánh giá tỷ lệ tái phát cholesteatoma dài hạn, đồng thời so sánh đối chứng hiệu quả chức năng thính giác giữa các loại vật liệu tạo hình xương con khác nhau.
Giá trị tham khảo
- Đối với phẫu thuật viên Tai Mũi Họng: Luận án cung cấp hướng dẫn chi tiết về các mốc giải phẫu nội soi, kỹ thuật khoan hạ tường dây VII qua đường ống tai, phương pháp xử lý các biến đổi giải phẫu nguy hiểm (sa màng não, tĩnh mạch bên ra trước) và quy trình chỉnh hình tai giữa đồng thì.
- Đối với học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tai Mũi Họng: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật về bệnh sinh cholesteatoma, giá trị đối chiếu giữa hình ảnh cắt lớp vi tính với thực tế phẫu thuật, và phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng trong phẫu thuật tai.
- Đối với các nhà quản lý y tế và chuyên gia thính học: Luận án cung cấp bằng chứng thực tiễn về hiệu quả điều trị bảo tồn chức năng nghe và giảm thiểu thời gian chăm sóc hậu phẫu cho bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn giải phẫu trên phim cắt lớp vi tính để chỉ định phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai là gì?
Chỉ định phù hợp khi phim chụp cắt lớp vi tính cho thấy cấu trúc xương chũm thuộc thể đặc ngà hoặc nghèo thông bào (loại 2, loại 3 theo Görür), sào bào có kích thước nhỏ, đáy sào bào ngang mức hoặc cao hơn sàn ống tai ngoài, và bệnh tích cholesteatoma hoặc túi co kéo độ IV khu trú ở vùng thượng nhĩ, sào đạo, sào bào chưa phá hủy lan rộng ra các nhóm thông bào khác của xương chũm.
2. Về mặt giải phẫu học, đường vào xuyên ống tai có ưu điểm gì so với đường mổ sau tai kinh điển?
Đường vào xuyên ống tai là đường ngắn nhất để mở trực tiếp vào sào bào. Chiều dày vách xương thành sau ống tai ngoài cần khoan mở chỉ từ 2 đến 4 mm, trong khi mở qua vỏ xương chũm mặt ngoài ở đường sau tai phải khoan qua lớp xương dày trung bình 12,41 ± 1,6 mm. Do đó, kỹ thuật này hạn chế tối đa việc phá hủy xương lành và giúp hốc mổ tiệt căn thu hẹp tự nhiên.
3. Luận án đã loại trừ những đối tượng bệnh nhân nào trong tiêu chuẩn chọn mẫu?
Nghiên cứu loại trừ các trường hợp: bệnh nhân đang trong đợt hồi viêm cấp của viêm tai giữa mạn tính hoặc đang có các biến chứng nguy hiểm (viêm màng não, áp xe não, viêm tĩnh mạch bên, viêm mê nhĩ); bệnh nhân có dị dạng bẩm sinh ở tai ngoài hoặc tai giữa; và bệnh nhân không tham gia theo dõi đầy đủ tối thiểu 3 tháng sau phẫu thuật.
4. Vai trò của chụp cộng hưởng từ chuỗi xung khuếch tán (MRI diffusion) trong theo dõi sau phẫu thuật là gì?
Chụp cộng hưởng từ chuỗi xung khuếch tán có khả năng phát hiện tổn thương cholesteatoma kích thước nhỏ từ 2 đến 5 mm, cho phép phân biệt rõ giữa tổ chức xơ sẹo, viêm phù nề sau mổ với tổn thương tái phát cholesteatoma, từ đó giúp theo dõi an toàn và tránh các cuộc phẫu thuật kiểm tra thì hai không cần thiết.
5. Các phương pháp chỉnh hình tai giữa nào được thực hiện trong kỹ thuật mổ này?
Trong phẫu thuật, chỉnh hình tai giữa được thực hiện theo các type I, II, III (theo phân loại Tos M. cải biên cho hốc tiệt căn): màng nhĩ mới được tái tạo bằng cân cơ thái dương hoặc màng sụn nắp tai để che kín khoang trung nhĩ và hạ nhĩ; chuỗi xương con được tái tạo bán phần (PORP) hoặc toàn phần (TORP) bằng trụ gốm sinh học hoặc xương tự thân nhằm dẫn truyền âm thanh từ xương bàn đạp (hoặc màng nhĩ) đến cửa sổ bầu dục.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã hệ thống hóa cơ sở giải phẫu và thực tiễn lâm sàng của kỹ thuật phẫu thuật nội soi tiệt căn xương chũm đường trong ống tai điều trị viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm. Nghiên cứu khẳng định phương pháp này là lựa chọn can thiệp hiệu quả, an toàn cho các trường hợp cholesteatoma và túi co kéo độ IV khu trú trên nền xương chũm đặc ngà, sào bào nhỏ. Phẫu thuật giúp làm sạch triệt để bệnh tích, tạo hốc mổ nhỏ nhanh liền sẹo, đồng thời cho phép chỉnh hình tai giữa phục hồi sức nghe và duy trì tính thẩm mỹ cho bệnh nhân.